Sat. Aug 13th, 2022
Kinh tế

Ông Nguyễn Ánh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Trước những dấu hiệu cải cách “chạm đỉnh”, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng ban Nghiên cứu tổng hợp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, cải cách giai đoạn tiếp theo phải được xử lý hiệu quả. Quả mối quan hệ giữa cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Đặc biệt, để không bỏ lỡ “chuyến tàu” cải cách, cách tiếp cận cải cách cần bảo đảm đủ trọng tâm và lộ trình bài bản, gắn với “phân công vai trò” của các bộ, ngành phù hợp.

CIEM vừa tổ chức tham vấn cấp cao về cải cách phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2021-2025. Nhìn lại thời kỳ đổi mới vừa qua, ông đánh giá như thế nào về những gì chúng ta đã làm được?

Việt Nam đã tiếp tục công cuộc đổi mới trong gần một thập kỷ qua. Xu hướng cải cách đặc biệt nổi bật từ năm 2013-2014, khi Việt Nam thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế sau nhiều năm khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009) và lạm phát. Nước này liên tục leo thang (năm 2011).

Theo đó, bên cạnh nỗ lực nâng cao hiệu quả điều phối chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách tập trung hơn vào phía cung, tức là tăng năng lực sản xuất của Việt Nam gắn với sản xuất và thông qua hàng hóa. Một số giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, chính sách cạnh tranh, mở rộng dư địa đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế tư nhân trong nước. . .

Kinh tế

Lo ngại một số lĩnh vực cải cách có thể đạt đỉnh, nhưng hàng loạt nghị quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng gần đây vẫn phản ánh quyết tâm đẩy mạnh cải cách song song với phòng chống dịch và phục hồi kinh tế.

Cần lưu ý rằng, trong giai đoạn 2013-2015, Việt Nam cũng đã đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA). Việc chuẩn bị cho các hiệp định này cũng đòi hỏi phải đẩy mạnh cải cách thể chế trong nước trên nhiều lĩnh vực như doanh nghiệp nhà nước, đầu tư, thương mại, phát triển bền vững và sở hữu trí tuệ. . .

Đà cải cách môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tiếp tục được đẩy mạnh từ năm 2016 với việc tiếp tục đổi mới liên tục Nghị quyết 19 của Chính phủ (chuyển từ năm 2019 sang Nghị quyết 02). Một thành tựu dễ nhận thấy là các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tin tưởng vào triển vọng cải cách của Việt Nam và quan tâm đến dòng vốn đổ vào Việt Nam ngay cả trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung hay dịch COVID-19. Việt Nam (trong số các lý do khác).

Quyết tâm đẩy mạnh cải cách đi đôi với phòng chống dịch và phục hồi kinh tế được thể hiện qua hàng loạt nghị quyết của Chính phủ và quyết định mới đây của Thủ tướng Chính phủ, bất chấp những lo ngại về khả năng “chạm đỉnh” của một số lĩnh vực cải cách. Một định hướng rõ ràng là tạo thêm không gian, môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.

Chúng ta đã thấy nhiều chuyển động chính sách về đổi mới sáng tạo, kinh tế số, mô hình kinh tế ban đêm hay gần đây là câu chuyện kinh tế tuần hoàn. Còn nhớ, cuối tháng 7-2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án kinh tế ban đêm, cùng lúc đó, đợt dịch Covid thứ hai bắt đầu bùng phát. Điều này cho thấy quyết tâm tìm kiếm mọi cơ hội để tạo thêm dư địa và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngay cả trong những thời điểm khó khăn.

Khả năng cuộc cải cách mà bạn vừa chia sẻ sẽ “đạt đến đỉnh cao” như thế nào?

Theo nghĩa tương đối, “chạm đỉnh” phản ánh nỗ lực cải cách sẽ không mang lại nhiều kết quả và lợi ích cho nền kinh tế nếu không đổi mới mạnh mẽ tư duy và cách làm. Ví dụ, nếu chúng ta không cải cách thể chế về liên kết vùng thì hiệu quả của liên kết vùng sẽ khó có thêm đột phá.

Tương tự, cải cách môi trường kinh doanh dường như thiếu đột phá trong một số lĩnh vực như điều kiện kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành. . . Điều tra PCI giai đoạn 2017-2020 cho thấy, việc tiếp cận nguồn vốn ở độ tuổi 35 rất khó khăn. -41% doanh nghiệp tư nhân được khảo sát. Do đó, có thể cần một cách tiếp cận điều tiết thông thoáng hơn để tăng khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp.

Mặt khác, trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, thị trường trong và ngoài nước ngày càng khó khăn, nhất là trong điều kiện yêu cầu phát triển bền vững, chúng ta sẽ mong muốn các doanh nghiệp tự nguyện cập nhật chất lượng hàng hóa, dịch vụ, hoặc Nhà nước phải điều chỉnh hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy chuẩn… Tư duy thể chế về nội dung này sẽ cần được tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới.

Vậy theo ông, trọng tâm cải cách trong giai đoạn tiếp theo sẽ là gì để có thể nhanh chóng phục hồi nền kinh tế sau đại dịch Covid-19, đồng thời hướng tới sự phát triển bền vững trong tương lai?

Cá nhân tôi cho rằng, để cải cách đi vào trọng tâm và thực chất hơn, chúng ta phải thẳng thắn xác định những lĩnh vực cải cách đã hoặc sắp đạt đến đỉnh cao. Bên cạnh đó là xử lý hiệu quả mối quan hệ giữa cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Kinh tế

12 trụ cột của Chỉ số cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0) do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đánh giá

Trước đó, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo động lực để Việt Nam chủ động đẩy mạnh cải cách thể chế trong nước trên nhiều lĩnh vực như bảo hộ sở hữu trí tuệ, cải cách doanh nghiệp nhà nước… Giờ đây, hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là điểm sáng, nhưng nó liên quan mật thiết đến cải cách kinh tế trong nước, việc có phát huy vai trò định hướng của cải cách thể chế kinh tế trong nước hay không cũng là vấn đề được nhiều chuyên gia quan tâm.

Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ngày càng sâu rộng, bên cạnh các hiệp định thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, trên một số lĩnh vực đã có thêm các hiệp định hợp tác mới, sâu rộng hơn như các hiệp định. đối tác kinh tế số). Nếu thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các cam kết của mình, Việt Nam có thể bỏ lỡ cơ hội tiếp cận các thông lệ quốc tế mới nhất.

Cuối cùng, cải cách thúc đẩy phát triển bền vững. Cần lưu ý rằng, phát triển bền vững còn mang lại cơ hội kinh tế, cơ hội tạo ra giá trị gia tăng chứ không chỉ là yêu cầu đánh đổi của tăng trưởng kinh tế. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững nhưng không làm phát sinh chi phí tuân thủ quá cao cho doanh nghiệp.

Theo ông, trong quá trình thực hiện các trọng tâm trên cần lưu ý những vấn đề gì?

Để không bỏ lỡ “chuyến tàu” cải cách, cách tiếp cận cải cách cần bảo đảm đủ trọng tâm, có lộ trình bài bản gắn với “phân công vai trò” của các bộ, ngành phù hợp. Đây là vấn đề rất khó về tư duy và thực hiện, bởi nhiều lĩnh vực mới chưa có tiền lệ.

Kinh tế số hay kinh tế tuần hoàn là vấn đề rất mới nên việc xác định chức năng của các bộ, ngành là không đơn giản. Một cách có thể là để các bộ, ngành chủ động mở sân chơi riêng, có thể thông qua các bài kiểm tra trước. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc gia, cần tính đến tính tổng thể, lợi ích quốc gia của đất nước để bảo đảm việc kiểm tra (nếu có) được đồng bộ, định hướng rõ ràng, phân tán. Đối với nền kinh tế số, tư duy mở không gian cho các doanh nghiệp tận dụng các cơ hội kinh doanh mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế cụ thể hóa tư duy dựa trên dữ liệu thành một nguồn lực mới, biến dữ liệu thành giá trị, thành tiền, thành nguồn lực hiệu quả để thúc đẩy tăng trưởng.

Bên cạnh đó, tác động của dịch COVID-19 và biến đổi khí hậu thời gian qua cho thấy phát triển bền vững là xu thế tất yếu. Thời gian còn lại để hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững không còn nhiều, vì vậy cần phải có ngay những hành động cụ thể. Cơ hội và dư địa cho cải cách thể chế kinh tế vẫn còn, vấn đề là phải thực hiện sớm, trên thực tế có thể thông qua việc xem xét cơ chế thử nghiệm. Ví dụ, đối với nền kinh tế tuần hoàn, cần xem xét xây dựng cơ chế thí điểm thông qua các dự án cụ thể để tạo cơ hội đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng xanh, từ đó chứng minh và tạo động lực lan tỏa đến các doanh nghiệp khác. Học tập, thử nghiệm gắn với mạnh dạn quá trình hội nhập cũng là hướng đi phù hợp.

An An –

Leave a Reply

Your email address will not be published.