Sat. Oct 1st, 2022

Tại tọa đàm “Nông nghiệp: Trụ cột vững chắc cho sự thay đổi” do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan đã chia sẻ cảm nhận về nhiều nông sản Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ và châu Âu. .

Ông cho rằng, khi cảm xúc vui qua đi thì nỗi buồn lại ập đến vì nông sản Việt còn yếu, lượng nông sản Việt vào kệ siêu thị Mỹ hay châu Âu quá ít và “không lối thoát”.

“Một đại sứ ở EU đã nói rằng nông sản của mình mới chỉ là 1% trong tỷ trọng nhập khẩu nông sản của EU, mà lại bán ở các cửa hàng gốc Á”, ông Hoan kể và khẳng định: “Khi đưa nông sản của mình vào được hệ thống phân phối chính quy của họ thì mới định hình thương hiệu cho mặt hàng nông sản của quốc gia. Chúng ta đưa vào đó được thì mới có sức lan tỏa, người tiêu dùng mới biết đến. Nhiều khi chúng ta hào hứng quá, chúng ta quên có những vấn đề, có những rủi ro phía sau. Chúng ta còn quá nhiều việc phải làm, phải có chiến lược hẳn hoi, phải mất nhiều năm nữa, không chỉ mới vài chuyến hàng của một vài doanh nghiệp mà nói là chúng ta đã chiếm lĩnh được thị trường”.

Chia sẻ suy nghĩ với người đứng đầu ngành nông nghiệp, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, Việt Nam chưa quảng bá rộng rãi nông sản tại các hệ thống phân phối lớn ở châu Âu, Hoa Kỳ. Trước đây, chủ yếu thông qua người châu Á, đặc biệt là cộng đồng người Việt về Việt Nam để xem một số mặt hàng nông sản có thể bán được ở thị trường châu Âu và châu Mỹ.

Đơn cử như đối với thị trường châu Âu, Việt Nam đã xuất khẩu rau quả sang thị trường này ngay từ khi mở cửa đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Khi đó, việc truy xuất nguồn gốc ở châu Âu chưa chặt chẽ, nhiều công ty Việt kiều ở Pháp, Đức, Anh hay người Hoa gốc Việt đang sinh sống ở châu Âu mang theo một số loại rau, miễn là có giấy chứng nhận kiểm dịch. Kinh doanh với trái cây tại Việt Nam.

Kinh tế

Nông sản Việt ở châu Âu còn rất khiêm tốn. Ảnh: Báo Đầu tư

Tương tự, ban đầu tại Mỹ, các công ty Việt kiều cũng thu mua nông sản trong nước và đưa sang Mỹ bán. Sau này, thông qua hệ thống giao dịch, nhiều siêu thị lớn của Mỹ chỉ tập trung vào trái cây Việt Nam, họ sang Việt Nam gặp gỡ doanh nghiệp để đưa một số mặt hàng nông sản vào hệ thống của mình.

Quảng bá là một phần, theo ông Nguyên, nông sản Việt Nam, đặc biệt là trái cây, do công nghệ bảo quản kém, chủ yếu xuất thô, sơ chế, giá thành cao nên chưa thâm nhập được vào thị trường châu Âu và Mỹ. Hậu cần quá cao

Giống như thanh long, hàng hóa Việt Nam ban đầu được vận chuyển bằng tàu biển nhưng khi đến nơi thì hư hỏng nặng, từ đó chuyển sang máy bay nhưng cước phí vận chuyển quá cao.

“Hàng Việt Nam đi sau hàng Thái Lan về công nghệ bảo quản, chế biến. Việc thu hoạch, phân loại, đóng gói trái cây chủ yếu là thủ công, thiếu kho lạnh, điều hòa, công nghệ bảo quản trái cây.

Do thiếu và thiếu kỹ thuật bảo quản trái cây sau thu hoạch nên tỷ lệ hao hụt cao, chiếm 20-30%, dẫn đến giá thành cao. Các doanh nghiệp đóng gói, xuất khẩu trái cây phần lớn là trái cây thô, tỷ lệ chế biến sâu thấp. Cả nước có hơn 150 cơ sở chế biến, chỉ đạt mức trung bình của thế giới, sản lượng chế biến thực tế chỉ đạt 500.000 tấn/năm nhưng công suất thiết kế đạt hơn 1 triệu tấn/năm.

Trong khi đó, một số nước cạnh tranh với Việt Nam, trong đó có Thái Lan đã đầu tư công nghệ chế biến sâu các sản phẩm rau quả nhiệt đới (vốn là thế mạnh của Việt Nam) đạt trình độ cao nhất thế giới. Và đặc biệt đã xây dựng được những thương hiệu mạnh, có uy tín. Ngoài ra, họ còn phát triển và thâu tóm các hệ thống phân phối trên thế giới để dễ dàng tiêu thụ sản phẩm ngay tại quê nhà.

Thái Lan có nông sản Việt Nam chất lượng cao, có thương hiệu nói trên, người tiêu dùng chỉ nghe đến cái tên này đã hình dung ra sản phẩm chất lượng, còn Việt Nam thì chưa làm được. Do đó, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam phân tích, sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam vẫn còn kém xa so với hàng Thái Lan.

Do đó, ông khẳng định, để nông sản Việt vươn xa, giảm phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc thì phải giải quyết được những điểm yếu này, từ chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm đến giá thành. Hậu cần, xúc tiến quảng bá. . .

“Thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam đã nỗ lực nhưng chưa đủ. Chúng ta có thể thâm nhập thị trường thông qua các doanh nghiệp châu Á, đặc biệt là Việt kiều để lan tỏa ra cộng đồng, nhưng trước hết Việt Nam phải có chất lượng, cộng với hiệu ứng quảng cáo, đặc biệt là giao dịch với các tập đoàn lớn ở nước ngoài…”, ông Tuấn nói.

Các chuyên gia nhắc lại, việc phụ thuộc nhiều vào một thị trường như Trung Quốc là bất lợi cho nông sản Việt Nam vì có quá nhiều rủi ro. Chỉ cần phía Trung Quốc thay đổi quy định nhập khẩu, yêu cầu kiểm dịch khó khăn hơn, hàng hóa Việt Nam lập tức ứ đọng tại cửa khẩu, thậm chí phải quay đầu, khiến chi phí của doanh nghiệp Việt Nam tăng gấp đôi, gấp ba.

Đáng lo ngại hơn, chính Trung Quốc cũng đang cạnh tranh với một số mặt hàng nông sản thế mạnh của Việt Nam như thanh long. Hiện nay, Trung Quốc đang phát triển diện tích trồng thanh long rất lớn, ngang tầm với Việt Nam, nhất là khi người Trung Quốc thấy lợi nhuận và đầu tư nhiều hơn.

“Trong những năm tới, Trung Quốc sẽ là đối thủ cạnh tranh của thanh long Việt Nam. Do đó, chúng ta phải lo phát triển dần các thị trường ngoài Trung Quốc để giảm sự phụ thuộc vào Việt Nam”, ông Đặng Phúc nói. Nguyên nhấn mạnh.

Thành Luân

Leave a Reply

Your email address will not be published.