Mon. Aug 8th, 2022
Kinh tế

Dệt may Việt Nam có lợi thế xuất khẩu vào thị trường EVFTA

Đa dạng hóa rủi ro

Các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa vào các thị trường FTA đều có quyền cam kết cắt giảm thuế quan đáng kể, hầu hết trên 90% số dòng thuế. Theo đó, xuất khẩu của Việt Nam đang có xu hướng tăng mạnh tại các thị trường FTA. Cụ thể, ngay trong năm đầu tiên thực thi, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã giúp kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng 8,3%. Với EVFTA, 8 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU đạt 25,85 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ. Trong đó, giá trị hàng hóa được hưởng ưu đãi từ Hiệp định EVFTA (được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa C/O EUR.1) đạt 5,66 tỷ USD, chiếm 21,9% tổng giá trị xuất khẩu của Liên minh châu Âu.

Cùng với đó, điều vô cùng thuận lợi là dư địa của các thị trường FTA còn rất nhiều. Cụ thể, lớn nhất là thị trường Trung Quốc, năm 2020 chúng ta mới xuất khẩu 48,9 tỷ USD, chiếm khoảng 2% tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc. Tương tự như vậy là các thị trường lớn như Nhật Bản, xuất khẩu Việt Nam mới chiếm 2,8% dung lượng thị trường; xuất khẩu sang Hàn Quốc chiếm 3%; Australia chiếm 1,7%…

Đây là những lý giải mạnh mẽ về những lợi ích và cơ hội trong tương lai của các thị trường FTA đối với hàng hóa xuất khẩu của nước ta. Tuy nhiên, xuất khẩu sang các thị trường FTA cũng mang lại nhiều lợi ích kinh tế cơ bản.

Trước hết, thị trường FTA tạo cơ hội cho Việt Nam cơ cấu lại thị trường xuất khẩu, nhập khẩu. Hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu với khu vực châu Á (chiếm khoảng 80% kim ngạch nhập khẩu và 50% kim ngạch xuất khẩu). Các FTAs giúp doanh nghiệp nước ta thâm nhập, khai thác các thị trường mới, phân tán rủi ro khi thương mại bị lệch quá nhiều về một, hai đối tác.

Điển hình là việc xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của nước ta phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc. Hiện nay, nước này đã tổ chức lại bộ máy để quản lý chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo ngành dọc, trong đó chú trọng tăng cường giám sát và thực hiện nghiêm các quy định về nhập khẩu. Chẳng hạn, hàng hóa nhập khẩu phải có xuất xứ từ các cơ sở nuôi trồng, chế biến thuộc danh mục được Trung Quốc đồng ý xuất khẩu; Phải có giấy chứng nhận an toàn thực phẩm do Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản cấp. . .

Theo đó, những năm gần đây, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc có xu hướng giảm. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung bình giai đoạn 2010-2019, thị trường Trung Quốc chiếm 28,16% giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam. Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 8,1 tỷ USD, chiếm 19,3% tổng thị phần xuất khẩu của ngành.

Trước đây, Trung Quốc luôn là thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Nhưng kể từ năm 2019 đến nay, thị trường này đã tụt xuống vị trí thứ hai. Trong 7 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 5,5 tỷ USD, đứng thứ 2 về thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam với 19,2% thị phần, chỉ đứng sau Hoa Kỳ với 820 triệu USD, chiếm 28,9% thị phần. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do các quy định của Trung Quốc đối với nông sản Việt Nam ngày càng khắt khe.

Với nhiều FTA thế hệ mới, chúng ta có nhiều cơ hội để xử lý và phân tán sự phụ thuộc rủi ro này.

Xây dựng chuỗi cung ứng mới

Thị trường FTA cũng tạo cơ hội cho doanh nghiệp nước ta tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, quá trình hình thành chuỗi cung ứng mới cho Việt Nam được đẩy mạnh hơn nữa. Vì sao Việt Nam được ưu tiên làm mắt xích trong chuỗi cung ứng mới? Nguyên nhân chính được các doanh nghiệp nhắc đến luôn là do Việt Nam được đánh giá là nước tiên phong mở cửa nhất trong khu vực, khi có 15 FTA với 60 nền kinh tế, chiếm 75% tổng kim ngạch. Thương mại thế giới; Là một trong ba nước ASEAN ký kết Hiệp định FTA thế hệ mới CPTPP; 1 trong 2 nước ASEAN đã ký FTA với EU. Do đó, khi đầu tư vào Việt Nam, các doanh nghiệp đương nhiên sẽ được hưởng ưu đãi tại các thị trường FTA mà Việt Nam đã ký kết.

Kinh tế

Không chỉ đầu tư, doanh nghiệp còn được quyền nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện tại các thị trường FTA để tính tỷ lệ xuất xứ. Để khuyến khích thương mại giữa các thành viên FTA, hạn chế lợi ích của các nước ngoài khu vực, nhiều sản phẩm cần sử dụng toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định nguyên liệu sản xuất trong nước. Hoặc được hưởng thuế ưu đãi tại các khu vực ký kết FTA. Quy tắc xuất xứ là thách thức đối với xuất khẩu nhưng cũng mang lại cơ hội khi tạo áp lực cho doanh nghiệp trong việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu. Từ chỗ sản xuất phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc, nay một số ngành sản xuất của nước ta như dệt may, da giày, chế biến gỗ, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng. Các sản phẩm sắt thép, nhựa, cao su, dây điện và cáp điện… không chỉ có sự chủ động nhất định về nguồn nguyên liệu trong nước kết tinh trong các sản phẩm xuất khẩu.

Có thể nói, với việc đi tiên phong trong việc mở rộng thị trường FTA tới 60 nền kinh tế, các FTA mà Việt Nam đang thực hiện chiếm tới 75% kim ngạch thương mại toàn cầu, bổ sung cho nhau theo hai hướng (xuất khẩu-xuất khẩu được hưởng ưu đãi thuế quan) và chiều về (nhập khẩu-đóng góp hàng tỷ USD). Tỷ lệ xuất xứ hàng hóa) giúp Việt Nam chủ động đa dạng hóa rủi ro, xây dựng chuỗi cung ứng mới, cơ cấu lại thị trường xuất nhập khẩu và tạo áp lực cho các ngành công nghiệp hỗ trợ các ngành định hướng xuất khẩu thay đổi mới, phát triển.

Gio Linh

Leave a Reply

Your email address will not be published.