Tue. Jul 5th, 2022
Kinh tế

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

đặt ra những vấn đề

Trong những năm gần đây, mô hình tăng trưởng chỉ tập trung vào sự tích lũy nhanh chóng của vốn vật chất và tài chính mà không chú ý đến sự suy giảm và cạn kiệt của vốn tự nhiên. Để tạo động lực phát triển bền vững, nâng cao chất lượng tăng trưởng và thịnh vượng quốc gia, cần có các giải pháp bảo tồn và sử dụng hiệu quả vốn tự nhiên.

Phát triển kinh tế bền vững thông qua thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn các-bon thấp và đầu tư vào vốn tự nhiên là xu hướng phát triển mới.

Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã bổ sung nội dung về công cụ kinh tế và tài nguyên bảo vệ môi trường, trong đó quy định rõ việc thúc đẩy khai thác, sử dụng và phát triển vốn tự nhiên. Của các tổ chức, cá nhân; Đồng thời, bổ sung chính sách tín dụng xanh, trái phiếu xanh, huy động đa dạng các nguồn lực xã hội để bảo vệ môi trường.

Khái niệm, nội hàm của vốn tự nhiên

Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc-UNDP (2012), vốn tự nhiên của các thành phần cụ thể bao gồm đất đai, khoáng sản, nhiên liệu hóa thạch, năng lượng mặt trời, nước, quần thể sinh vật và các dịch vụ được tạo ra bởi sự tương tác giữa tất cả các yếu tố này trong hệ sinh thái (HST).

Kinh tế

Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) cho rằng vốn tự nhiên là tài sản tự nhiên được sử dụng cho sản xuất và tiêu dùng, bao gồm các thành phần sinh học và vật chất của tự nhiên như đất, nước, khoáng sản và nhiên liệu hóa thạch.

Hàng hóa và dịch vụ do vốn tự nhiên cung cấp có giá trị quan trọng đối với đời sống và phát triển của con người, chẳng hạn như thực phẩm, nước, không khí, các dịch vụ văn hóa và tinh thần, hỗ trợ điều hòa chu trình sinh địa hóa.

Do đó, vốn tự nhiên là nền tảng để các quốc gia phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo an ninh sinh thái để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Theo các nhà nghiên cứu kinh tế sinh thái, vốn tự nhiên là khái niệm mở rộng khái niệm vốn truyền thống trong kinh tế học sang khái niệm hàng hóa và dịch vụ môi trường sinh thái.

Vì vậy, nội hàm của vốn tự nhiên bao gồm các sinh vật (động thực vật), các thành phần vật chất của tự nhiên như đất, nước và khoáng chất, khi được sử dụng sẽ mang lại giá trị gia tăng trong khi vẫn giữ được giá trị riêng của chúng. Để đảm bảo rằng các dịch vụ hệ sinh thái tiếp tục duy trì phúc lợi xã hội và cuộc sống của con người, các tài sản vốn tự nhiên cơ bản phải được bảo tồn.

Nói cách khác, nếu vốn tự nhiên được quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý thì lượng thu nhập tự nhiên sẽ tồn tại theo thời gian. Sự hài hòa giữa vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất và vốn xã hội sẽ giúp nâng cao năng lực sản xuất.

Theo một nghiên cứu của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (2012), cứ 1 đô la Mỹ đầu tư cho các nỗ lực bảo tồn, giá trị kinh tế xã hội của hệ sinh thái sẽ vượt quá 100 đô la Mỹ. Do đó, cần quản lý tốt hơn nguồn vốn tự nhiên để tăng trưởng bền vững.

Quản lý bền vững vốn tự nhiên là điều cần thiết để đạt được tăng trưởng xanh trong các lĩnh vực khác nhau. Các thành phần của vốn tự nhiên không thể tách rời mà cần được xem xét trong phát triển kinh tế.

Tiềm năng vốn tự nhiên của Việt Nam

Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vực và trên thế giới, là cầu nối các khu vực kinh tế biển rộng lớn với các khu vực kinh tế của lục địa châu Á. Tài nguyên thiên nhiên phong phú, có tiềm năng lớn để khai thác, sử dụng như: Tài nguyên khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên biển và đa dạng sinh học.

-Tài nguyên đất đai: Số liệu thống kê cho thấy, tính đến 31/12/2017, cả nước có 331.236 ha, diện tích đất đã sử dụng vào mục đích chiếm hơn 93% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó, đất nông nghiệp 1.150,8 nghìn ha (chiếm 34,74% tổng diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp 1.491,05 nghìn ha (chiếm 45,01% tổng diện tích tự nhiên), đất chuyên dùng. Diện tích sử dụng là 18.753 nghìn ha (chiếm 5,66% tổng diện tích đất tự nhiên); Và 714,9 nghìn ha đất ở.

-Tài nguyên nước: Việt Nam có 3.450 sông, suối có chiều dài từ 10km trở lên. Các sông, suối này nằm ở 108 lưu vực sông, phân bố trên cả nước với tổng diện tích hơn 1,167 triệu km2. Trong đó, có 33 lưu vực sông lớn liên tỉnh với 3.140 con sông (chiếm 91% tổng số sông của cả nước), tổng diện tích các lưu vực sông khoảng 306,44 nghìn km2, chiếm 92,6% diện tích đất liền của nước ta. Tổng trữ lượng động lực nước ngầm trên toàn lãnh thổ (không bao gồm các đảo) khoảng 2.000m3/s (khoảng 63 tỷ m3/năm).

-Tài nguyên sinh thái: Sự đa dạng về địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu của Việt Nam đã tạo nên sự đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm rừng, biển, đất ngập nước, các loài và nguồn gen sinh vật phong phú. Việt Nam có 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới; 2 di sản thiên nhiên thế giới; 8 khu Ramsar và 5 khu vườn di sản.

Việt Nam cũng là quốc gia có tính đa dạng sinh học cao về các loài động, thực vật. Theo thống kê, đến nay, trong tự nhiên có 7,5 loài vi sinh vật, 16,4 nghìn loài thực vật, 10,3 nghìn loài động vật trên cạn, hai nghìn loài thủy sản nước ngọt, hơn 11 nghìn loài sinh vật biển.

-Tài nguyên không tái tạo: Việt Nam đã phát hiện hơn 5.000 mỏ, điểm quặng với hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, trong đó có một số loại khoáng sản lớn, là tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

-Năng lượng tái tạo: Việt Nam có tiềm năng phát triển các nguồn năng lượng tái tạo sẵn có, bao gồm: Thủy điện nhỏ, năng lượng gió, năng lượng sinh khối, năng lượng khí sinh học, nhiên liệu sinh học, năng lượng rác thải sinh hoạt, năng lượng mặt trời và năng lượng địa nhiệt.

Một số hạn chế trong sử dụng vốn tự nhiên ở Việt Nam

Trong bối cảnh Việt Nam tham gia sâu rộng các cam kết quốc tế về môi trường và biến đổi khí hậu. . . Cần có cách tiếp cận phù hợp để tài nguyên thiên nhiên trở thành động lực phát triển, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất hiện nay là nguồn lực chưa được sử dụng hiệu quả, trong khi cơ chế thị trường gây lãng phí, thất thoát và diễn biến phức tạp.

Việc thực hiện chủ trương dồn điền, đổi thửa còn chậm; Tình trạng suy thoái tài nguyên đất diễn ra phổ biến, hàm lượng công nghệ phục vụ xuất khẩu, khai thác, chế biến khoáng sản thô còn ít.

Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước chưa bền vững. Suy giảm đa dạng sinh học, các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển. . . đối mặt với suy thoái, chưa phục hồi; Chưa phát huy hết lợi thế về tài nguyên, môi trường biển, tài nguyên biển và ven biển bị suy thoái nghiêm trọng, nguồn lợi thủy sản bị cạn kiệt. . .

Giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững vốn tự nhiên Việt Nam

Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2050 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2030 xác định ưu tiên sử dụng và bảo tồn hiệu quả nguồn vốn tự nhiên.

Theo đó, Chiến lược yêu cầu nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách kinh tế, tài chính về phục hồi và phát triển “vốn tự nhiên”, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phục hồi hệ sinh thái.

Để đẩy mạnh công tác bảo tồn và đầu tư có hiệu quả vốn tự nhiên, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững, trong thời gian tới cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân về giá trị của vốn tự nhiên trong xây dựng nền kinh tế xanh và tầm quan trọng của việc bảo tồn, sử dụng bền vững vốn tự nhiên.

Thứ hai, xây dựng cơ chế, chính sách thuận lợi để thúc đẩy đầu tư phát triển vốn tự nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm thiểu tác động tiêu cực đến vốn tự nhiên. Tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý, tăng cường năng lực thực thi pháp luật, xây dựng cơ chế, chính sách để giảm thiểu tác động đến vốn tự nhiên.

Thứ ba, xây dựng lộ trình thực hiện hạch toán vốn tự nhiên trong tài khoản quốc gia, tập trung vào giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái trong quy hoạch và triển khai, thực hiện các dự án đầu tư. Cần tính đến hiệu quả khai thác, sử dụng vốn tự nhiên.

Thứ tư, đánh giá, kiểm kê hiện trạng vốn tự nhiên (bao gồm các hệ sinh thái rừng, biển, đất ngập nước) để có quy hoạch, kế hoạch quản lý phù hợp, làm cơ sở thực hiện cân đối. Bảo vệ và các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.

Tăng cường năng lực quản lý và đầu tư cho bảo tồn và phát triển vốn tự nhiên, thúc đẩy cơ sở hạ tầng tự nhiên thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn. Kết luận

Việc sử dụng bền vững và phục hồi vốn tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là các mục tiêu liên quan đến phát triển bền vững. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Luật Bảo vệ môi trường đến năm 2020, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. . . Bổ sung nội dung về các công cụ, nguồn lực kinh tế về bảo vệ môi trường, thúc đẩy khai thác, sử dụng và phát triển vốn tự nhiên. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo tồn và phát huy hơn nữa giá trị, vai trò của vốn tự nhiên nhằm hài hòa mục tiêu phát triển và bảo tồn vốn tự nhiên.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018), Báo cáo môi trường quốc gia: Môi trường nước lưu vực sông;

2. Kim Thị Thúy Ngọc (2014), Vai trò của vốn tự nhiên trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, Tạp chí Môi trường, số 9/2014;

3. Minh Đăng (2020), Đầu tư vốn tự nhiên-Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học hướng tới xây dựng mô hình kinh tế xanh ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 7/2020;

4. Nguyễn Hưng Thịnh, Nguyễn Trung Thuận (2021), Một số điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường 2020, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 1/2021;

5. Nguyễn Thế Chính (2019), Báo cáo tổng hợp điều tra, khảo sát, hoàn thiện Đề án chính sách thúc đẩy phục hồi và phát triển vốn tự nhiên. Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường;

6.R. (1997), “Giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái thế giới và vốn tự nhiên”. Thiên nhiên, (387);

7. Fenida, Y. (2019), Sự lựa chọn và giá trị của vốn tự nhiên, Oxford Economic Policy Review 35(1)/2019, tr. 120-137;

8. Benson, Gough M, Arros, Greenfield, Wormgoor W. (2018), Vốn tự nhiên của Chính phủ: Tại sao, Cái gì và Làm thế nào (Dự thảo 1.0, ngày 21/11/2018).

*TS. Nguyễn Đình Đáp, TS. Nguyễn Thị Bích Nguyệt Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

**Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 10/2021.

Leave a Reply

Your email address will not be published.