Sat. Oct 1st, 2022

Suy hô hấp mãn tính là gì? Hệ thống hô hấp là nơi chịu trách nhiệm thu nhận oxy (O2) và loại bỏ carbon dioxide (CO2). Khi hít vào, không khí giàu oxy đi vào phổi sau đó đi vào máu và phân phối ở các cơ quan khác nhau của cơ thể. Nguồn oxy đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì các chức năng cần thiết của cơ thể. Khi bạn thở ra, bạn giải phóng carbon dioxide ra khỏi cơ thể. Carbon dioxide là sản phẩm được tạo ra trong quá trình hoạt động thể chất. Nếu nồng độ carbon dioxide trong máu cao, chúng có thể gây ảnh hưởng xấu đến các cơ quan trong cơ thể, do đó việc loại bỏ carbon dioxide là rất cần thiết.

Suy hô hấp cấp là tình trạng bệnh lý xảy ra đột ngột, thường phải cấp cứu y tế. Tuy nhiên, suy hô hấp mạn tính là tình trạng bệnh lý diễn biến dần theo thời gian, cần điều trị lâu dài.

Sức khỏe - Y tế

Ảnh minh họa.

Suy hô hấp mãn tính thường xảy ra khi các ống dẫn khí vào phổi bị thu hẹp và có những tổn thương nhất định, cản trở quá trình vận chuyển không khí trong cơ thể, đồng nghĩa với việc hít phải ít oxy hơn và ít carbon dioxide hơn. Thở ra nhiều khí CO2 hơn bình thường, lưu ý rằng các dấu hiệu và triệu chứng của suy hô hấp mãn tính có thể không rõ ràng ban đầu. Chúng thường diễn ra một cách chậm chạp trong một thời gian dài. Sau một thời gian, các triệu chứng sẽ xuất hiện dần dần, có thể bao gồm: Tím và khó thở: Tím xuất hiện khi khó thở, khi thiếu oxy nặng (nặng dần do tiến triển tự nhiên hoặc nặng đột ngột do bội nhiễm). Rối loạn hành vi: Khi người bệnh dễ bị kích thích, đau đầu, rối loạn ý thức, vừa sảng khoái, vừa ủ rũ, có thể run rẩy do tăng CO2 và đưa ra cảnh báo hôn mê. Do tình trạng thiếu oxy và lượng khí CO2 tăng lên, Các dấu hiệu của suy tim phải quan trọng hơn là các triệu chứng nhẹ hơn, sớm hơn và thường cần chú ý để phát hiện, thường gặp ở các trường hợp suy hô hấp tắc nghẽn mạn tính: thở nhanh, nông và rộng ngực nhằm bù đắp tình trạng thiếu oxy và hạn chế tình trạng xẹp phế quản nhỏ do thở ra sâu: Dấu hiệu co bóp cho thấy tăng áp lực âm màng phổi do tắc nghẽn đường hô hấp; Tăng sự co bóp của cơ hình thang, và các cơ này sẽ phì đại trong quá trình thở; Thở ra bằng cách khép môi: Mục đích là giảm sự chênh lệch áp lực giữa phế nang và khoang miệng để giảm sự xẹp phế quản; Mở rộng lồng ngực, khoang sườn rộng hơn ngón tay của bệnh nhân. Thử nghiệm thổi diêm: Mở miệng và thổi diêm trên 50cm. Thổi diêm cách xa 100cm. Nếu không đóng cửa sẽ có nguy cơ suy hô hấp mãn tính. Cận lâm sàng: thăm dò chức năng hô hấp (đo hô hấp, dung tích sống); Trong suy hô hấp tắc nghẽn mạn tính: FEV1, FEV1/FCV giảm. Ngoài ra còn có những dấu hiệu dễ nhận biết hơn: khó thở hoặc khó thở, nhất là khi vận động; Ho ho; Thở khò khè; Da, môi hoặc móng tay tím nhạt; Thở nhanh; Mệt mỏi; Lo lắng; Gây nhầm lẫn; Có cảm giác khó thở; Hoặc thức dậy trong giấc ngủ. Phương pháp điều trị Tùy theo mức độ nặng của bệnh, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Các lựa chọn có thể bao gồm: Liệu pháp oxy: Nếu máu của bạn không đủ oxy, bác sĩ có thể sử dụng liệu pháp oxy. Liệu pháp này giúp tăng nồng độ oxy bằng cách tăng lượng oxy bạn hít vào. Oxy được lưu trữ trong bình, đi qua mặt nạ qua ống thở và đưa trực tiếp vào khí quản. Mở khí quản: Trong trường hợp suy hô hấp mạn tính nặng, các bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp mở khí quản. Bác sĩ đặt một ống vào khí quản của bạn để bạn có thể thở dễ dàng hơn. Ống được đưa vào trước cổ bằng phẫu thuật. Ống thông này có thể được đặt tạm thời hoặc vĩnh viễn. Thở máy: Nếu các phương pháp khác không hiệu quả, bác sĩ có thể sử dụng máy thở. Máy này bơm oxy vào khí quản của bạn thông qua một ống được đặt trong miệng hoặc mũi của bạn. Bạn sẽ không tự thở được vì thông khí tốt. Chế độ sinh hoạt phù hợp: Bạn sẽ có thể kiểm soát được bệnh nếu thực hiện các biện pháp sau: Ngừng hút thuốc; Tránh khói thuốc thụ động; Ăn một chế độ ăn uống hợp lý đầy đủ trái cây và rau quả; Tập thể dục hầu hết thời gian trong tuần. điều trị COPD, hen suyễn, suy tim và các bệnh gây suy hô hấp chủ động, tuân thủ phác đồ điều trị nghiêm ngặt. Không tự động sử dụng oxy khi chưa có chỉ định của bác sĩ.Suy hô hấp mãn tính là hậu quả của các bệnh nội khoa, đặc biệt là các bệnh về phổi, tim, thành ngực. Đây là màn trình diễn khó phục hồi ở giai đoạn muộn. Việc điều trị ở giai đoạn này chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Để hạn chế tối đa bệnh chuyển sang giai đoạn này, đòi hỏi người bệnh phải thực sự tuân thủ nghiêm ngặt quy trình điều trị các bệnh mãn tính dễ dẫn đến suy hô hấp như trên.

BS. Nguyễn Hữu Hạnh

Leave a Reply

Your email address will not be published.