Sat. Sep 24th, 2022
Tài chính

Lãi dự thu được coi là “con dao hai lưỡi”

Tháng đầu tiên của năm 2021, các ngân hàng vẫn báo lãi cao hoặc lập kỷ lục mới, nhưng màu hồng không che giấu tất cả vì đại dịch COVID-19.

Lợi nhuận quý 3 giảm nhưng cả 9 tháng vẫn tăng

Trong báo cáo đầu tháng 10, dựa trên ước tính sơ bộ kết quả kinh doanh của 9 ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán, Fiingroup cho biết lợi nhuận quý III/2021 của nhóm ngân hàng này giảm 13,4% so với quý II/2021.

Thực tế cũng cho thấy, chỉ riêng trong quý 3, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của TPBank đã chậm lại, đạt khoảng 36% so với mức tăng 48% trong nửa đầu năm.

Tương tự, lợi nhuận trước thuế của NCB trong quý 3 giảm 19% từ 98,7 tỷ đồng trong quý 2 xuống 79,8 tỷ đồng. Hay lợi nhuận trước thuế của Kienlongbank giảm 29% so với quý 2 (103,1 tỷ đồng) xuống còn 72,8 tỷ đồng trong quý 3.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy: 16 ngân hàng thương mại (chiếm 75% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế) đã giảm lãi suất cho vay theo cam kết với Hiệp hội Ngân hàng. Tổng số tiền lãi giảm lũy kế từ ngày 15/7/2021 đến hết tháng 9/2021 là 11.813 tỷ đồng.

Trong dự báo của thị trường, kết quả kinh doanh quý 3 của các ngân hàng có phần chững lại. Bởi lẽ, ngành ngân hàng gắn liền với nền kinh tế và quý III/2021 là thời điểm hoạt động kinh doanh đồng loạt chững lại do giãn cách xã hội. Nhiều ngân hàng thương mại buộc phải tạm ngừng hoạt động tại các tỉnh, thành phố lớn phía Nam.

Cùng kỳ quý III, ngân hàng khó tăng tốc cho vay và phải giảm lãi suất để hỗ trợ người dân khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh nên các lĩnh vực kinh doanh chủ lực có dấu hiệu thu hẹp. Ở một mức độ nào đó, lợi nhuận tăng trưởng chậm là điều dễ hiểu.

Tài chính

Mặc dù lợi nhuận quý 3 có chững lại nhưng nửa đầu năm tăng trưởng khá nên lũy kế 9 tháng, các ngân hàng vẫn ghi nhận mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung, lợi nhuận trước thuế lũy kế 9 tháng đầu năm của NCB cao gấp 7 lần so với cùng kỳ, còn tại Kienlongbank cao gấp 6 lần.

Trong khi đó, 9 tháng đầu năm 2021, lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Bản Việt, SeABank và PGBank đều tăng từ 100% đến 180% lợi nhuận trước thuế so với cùng kỳ năm 2020. Nhiều ngân hàng khác như TPBank, HDBank, SeABank, SHB… cho biết vẫn duy trì được đà tăng trưởng lợi nhuận tốt so với cùng kỳ năm ngoái.

Xét về giá trị tuyệt đối của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân trong 9 tháng, lợi nhuận sau thuế của Techcombank đạt 17.098 tỷ đồng, tăng 59,6% so với cùng kỳ. Tiếp theo là MB, ACB và SHB với lợi nhuận lần lượt là 11.885 tỷ đồng, 8.968 tỷ đồng và 5.055 tỷ đồng.

Đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước, lợi nhuận trước thuế quý III/2021 của VietinBank đạt 3.060 tỷ đồng. Trong 9 tháng đầu năm 2021, con số này của VietinBank đạt 1.391 tỷ đồng, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, lợi nhuận lũy kế 9 tháng của BIDV và Vietcombank lần lượt đạt 10.733 tỷ đồng và 19.311 tỷ đồng.

Đánh giá về kết quả tích cực trên của ngành ngân hàng, ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam chỉ ra 3 động lực chính.

Thứ nhất, chất lượng nợ của hệ thống ngân hàng liên tục được cải thiện trước khi dịch bệnh xảy ra. Trong khi đó, nhiều khoản nợ được cơ cấu lại do các Thông tư 01, 03 và 14 của Ngân hàng Nhà nước, giữ nguyên nhóm nợ và các ngân hàng không phải trích lập dự phòng đầy đủ.

Thứ hai, đầu tư cho công nghệ và chuyển đổi số bắt đầu có kết quả, có lĩnh vực doanh thu dịch vụ chiếm tới 40% lợi nhuận.

Thứ ba, do xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt tăng cao trong đại dịch Covid-19, các ngân hàng đã giảm chi phí vốn đầu vào (tăng tiền gửi không kỳ hạn), trong khi

Cẩn trọng với lãi dự thu và nợ xấu tăng

Nhận định về lợi nhuận ngân hàng 9 tháng qua, một số ý kiến cho rằng, việc đẩy lợi nhuận lên mức kỷ lục là do lãi dự thu, nhằm chứng minh năng lực tài chính cho cổ đông và nhà đầu tư. Theo đó, các ngân hàng có thể dễ dàng phát hành trái phiếu để tăng vốn, trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu mới cho cổ đông hiện hữu. . .

Nhìn nhận vấn đề này, ông Hùng cho biết, theo quy định, tất cả dư nợ nhóm 1 đều là nợ đủ điều kiện, có khả năng trả cả gốc và lãi nên lãi suất của khách hàng chưa thu sẽ được ghi nhận. Nhận tiền tạm ứng. Đáng chú ý, trong quy định về cơ cấu nợ tại các Thông tư 01, 03 và 14 của Ngân hàng Nhà nước, các khoản nợ được cơ cấu lại sẽ buộc phải xóa khỏi các khoản nợ dự thu.

“Như vậy, bản chất hiện nay của lãi dự thu ngân hàng là nợ sạch, nợ đủ điều kiện”, ông Hùng chia sẻ và khẳng định. “Ngân hàng không thể bỏ lãi dự thu vì phải hạch toán theo quy định và không được tính nợ nhóm 2 vào nợ dự thu.

“Chi phí dự thu là con dao hai lưỡi. Một mặt, nếu thu hồi hết nợ thì chi phí dự thu sẽ rất tốt. Mặt khác, trong trường hợp không thu hồi được nợ, khoản vay sẽ chuyển sang nợ xấu, ngân hàng buộc phải trích lập dự phòng và hạch toán giảm thu nhập”.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng

Cũng theo ông Hùng, không một ngân hàng nào muốn dùng lãi dự thu để đẩy lợi nhuận lên cao, kéo giá trị cổ phiếu lên cao. “Không những thế, nếu cổ phiếu thực sự được huy động theo đúng giá trị thực của ngân hàng thì tôi cho rằng đó là điều tốt. Điều này tạo áp lực cho Hội đồng quản trị và Ban điều hành, buộc ngân hàng phải tăng trưởng ổn định để giữ được kỳ vọng của cổ đông”, ông Hùng nói.

Tuy nhiên, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam lưu ý, dịch bệnh đã ảnh hưởng đến doanh nghiệp, các ngân hàng cũng tham gia, dẫn đến không thể đảm bảo 100% thu nhập lãi được đưa vào thu nhập.

“Khó khăn của doanh nghiệp chưa thể hiện rõ do cơ cấu nợ của ngân hàng, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và cho phép miễn, giảm lãi vay. Điều này giúp doanh nghiệp chịu áp lực trả nợ. Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn, nguy cơ bị nhảy nhóm nợ là rất cao”, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết.

Hiện tại, sau những diễn biến tích cực trong nửa đầu năm, nợ xấu của nhiều ngân hàng bất ngờ tăng mạnh trở lại trong quý III/2021. Như Techcombank, nợ xấu của ngân hàng này trong quý III/2021 bất ngờ tăng hơn 710 tỷ đồng, tương đương mức tăng 63,5% lên 1.819 tỷ đồng. Trong đó, nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) tăng gấp đôi, lên 443 tỷ đồng; Nợ nhóm 3 tăng 83% lên 727 tỷ đồng.

Hay tại MB, tính đến hết quý 3, nợ xấu của MB là 3.186 tỷ đồng, tăng 26% so với cuối quý 2. Nợ xấu của MB tăng trở lại trong quý 3 đến từ các khoản nợ nhóm 5 và nhóm 4 với mức tăng lần lượt là 51,3% và 37,2%.

Mới đây, báo cáo trước Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Kim Anh cho biết, nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn đến cuối năm nay dự kiến sẽ ở mức từ 7,1%-7,7% đến khoảng 8%. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đánh giá, việc chậm tiến độ vẫn ảnh hưởng đến năm 2022 nên ngành ngân hàng sẽ còn gặp nhiều khó khăn.

Đào Hưng –

Leave a Reply

Your email address will not be published.