Tue. Jul 5th, 2022

Luật đáng ngại

Quan sát tình hình khủng hoảng kinh tế diễn ra tại Việt Nam thời gian qua, các chuyên gia nhận thấy, khi chịu tác động mạnh từ những biến động bên ngoài, GDP sẽ không giảm ngay lập tức mà thường sẽ chậm lại trong năm tới.

Cụ thể, với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao trên 8%/năm trong 6 năm liên tiếp. Việt Nam chưa rơi vào vòng xoáy khủng hoảng nhưng tăng trưởng đã chậm lại. Năm 1998, tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn 5,76% và năm 1999 xuống còn 4,77%.

Điều này cũng đúng với cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra vào năm 2008. Trước đó, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng đạt mức khá cao, nhiều năm liền đạt từ 7% trở lên. Việt Nam cũng không rơi vào vòng xoáy khủng hoảng mà tăng trưởng đã chậm lại. Tốc độ tăng trưởng năm 2009 giảm xuống còn 5,32%.

Năm 2019, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng 7.02% và đến năm 2020, đại dịch Covid bùng phát. Việt Nam cũng không rơi vào suy thoái mà tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 2,91%. Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 của Việt Nam chỉ đạt 2-2.5%.

Tài chính

Trong khi sức tiêu thụ giảm mạnh thì nguyên liệu đầu vào cho sản xuất kinh doanh lại tăng mạnh.

Điều đáng lo ngại là sau khủng hoảng, Việt Nam phải mất nhiều năm mới phục hồi được nền kinh tế và tăng trưởng rất chậm, chỉ từ 1-2%/năm. Chuyên gia Nguyễn Đình Cung dự báo, với đà phát triển như hiện nay, đến năm 2022, nếu tăng trưởng tốt thì GDP tối đa chỉ có thể đạt 5%/năm.

Hiện nay, nền kinh tế đang đứng trước những thách thức khi tiêu thụ nội địa giảm mạnh, trong khi các mặt hàng xăng dầu, sắt thép, than đá, phân bón, tôm nguyên liệu, cá nguyên liệu… . . đều tăng nhanh, dễ hình dung nguy cơ lạm phát rình rập. . . Từ thực tế này, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các chuyên gia cho rằng, cần có giải pháp quyết liệt, phải có gói kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ sản xuất.

Hỗ trợ còn thấp

Mới đây, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 406/NQ-UBTVQH15 về một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng bởi dịch COVID, trong đó có giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có kinh doanh. Doanh thu năm 2021 không quá 200 tỷ đồng, giảm 30% thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với một số mặt hàng đến ngày 31/12/2021. . .

Ông Nguyễn Quốc Kỳ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietravel cho biết, mặc dù Nghị quyết 406 đưa ra một số chính sách hỗ trợ nhưng nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, không có doanh thu, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc giảm thuế. VAT cũng không giúp khôi phục hoạt động. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ này chỉ được thực hiện đến hết năm 2021 và chỉ còn hơn 2 tháng nữa là quá ngắn để hấp thụ các doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.

“Một cơ thể ốm nặng, giờ không thể ngồi dậy được, không thể trong vòng 2 tháng sức khỏe bình thường. Doanh nghiệp cần có giải pháp hỗ trợ quyết liệt, dứt khoát hơn nữa để hoạt động trở lại”, ông Kỳ nhấn mạnh.

Theo ông, trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, Quốc hội đã có chủ trương giảm 50% thuế giá trị gia tăng và kéo dài trong 2 năm. Hiện nay, doanh nghiệp vừa bị ảnh hưởng bởi dịch Covid gây suy thoái kinh tế, chính sách hỗ trợ thấp, thuế giá trị gia tăng chỉ giảm 30%, thời gian ngắn hơn là không hợp lý.

Tài chính

Hầu hết các gói hỗ trợ còn mang tính hình thức, kém hiệu quả, thậm chí không khả thi.

Trong khi đó, ông Phạm Tấn Công, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, quy mô gói hỗ trợ hiện nay mới chỉ đạt hơn 2% GDP, đây là mức khá thấp so với các nước trong khu vực. . Thái Lan chi 15,6% GDP, Malaysia chi 8,8% GDP và Indonesia chi 5,4% GDP. . . Hỗ trợ doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid.

Dẫn số liệu về các gói hỗ trợ của các nước trên thế giới kể từ khi dịch Covid bùng phát, chuyên gia Lê Xuân Nghĩa cho biết: Mỹ đã đưa ra các gói hỗ trợ với tổng giá trị 5.838 tỷ USD, tương đương khoảng 28% GDP vào năm 2020; Nhật Bản chi 61% GDP; Châu Âu chiếm khoảng 20% GDP. . . Các quốc gia sử dụng hỗ trợ để tài trợ cho thất nghiệp, tài trợ cho việc làm thông qua phân phối tiền mặt; Cho vay đối với các doanh nghiệp lớn mà ngân hàng không có khả năng cho vay hoặc bảo lãnh đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việt Nam hiện chỉ hỗ trợ 2,94% GDP. Trong bối cảnh đó, lãi suất giảm hay ưu đãi không giúp doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn. Bởi doanh nghiệp gặp khó khăn sẽ không đủ điều kiện vay vốn ngân hàng. Theo ông Nghĩa, việc hỗ trợ này phải bằng “tiền mặt thật”.

Neroch, hai người.

Trong khi đó, khảo sát của VCCI vào tháng 9/2021 cho thấy, các gói hỗ trợ chính trong thời gian dịch Covid bao gồm: Chính sách tài khóa tập trung gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất; Chính sách tiền tệ tập trung vào cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi suất, hỗ trợ tín dụng; Chính sách hỗ trợ bảo đảm an sinh xã hội. . . Nhất còn mang tính hình thức, kém hiệu quả, thậm chí không khả thi.

Chẳng hạn, chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp không giúp được gì cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng, thua lỗ nặng.

Theo khảo sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận một số chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng, vay vốn ưu đãi còn thấp do thủ tục phức tạp, điều kiện chưa phù hợp. Những mâu thuẫn còn tồn tại giữa các luật điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa được giải quyết triệt để, gây khó khăn cho doanh nghiệp.

VCCI cho biết tổng nợ công trên GDP của Việt Nam đang ở mức thấp, vì vậy cần xem xét mở rộng quy mô các gói hỗ trợ cho DN. “Với GDP ước tính năm 2020 của Việt Nam là gần 6,3 triệu tỷ đồng, các gói hỗ trợ có thể mở rộng tới 4%, tương đương 250.000 tỷ”, Chủ tịch VCCI đề xuất. Tiếp theo là giảm thuế thu nhập DN, thuế VAT, tiền thuê đất ở mức 50%, thay vì 30% như hiện nay trong 2021-2022. Nếu không có những gói hỗ trợ đủ mạnh, thì tăng trưởng kinh tế nguy cơ sẽ lặp lại quy luật của những lần khủng hoảng trước, đó là tăng trưởng rất ì ạch.

Trần Thủy

Leave a Reply

Your email address will not be published.