Tue. Jul 5th, 2022

Áp lực từ hiệu trưởng

Ông Nguyễn Minh Quang, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Giáo dục và Tư vấn LV&F cho rằng, về bản chất, hoạt động của các trường đại học tư thục không khác gì doanh nghiệp. Chỉ có hai điểm khác nhau: Thứ nhất, đầu ra của ĐH dân lập là đặc thù (là con người) vì đó là kiến thức, năng lực tư duy và khả năng làm một nghề nào đó. Đặc biệt hơn, sản phẩm này còn tham gia không hạn chế vào việc tạo ra các sản phẩm khác.

Thứ hai, quyết định sử dụng thặng dư (lợi nhuận) như thế nào sẽ cho biết trường đại học tư thục này hoạt động vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận. Bởi đa số các nhà đầu tư luôn mong muốn thu hồi vốn nhanh, lợi nhuận cao nên muốn tìm được người giỏi để hoạt động. Tất nhiên, ứng viên hiệu trưởng phải có kiến thức giáo dục, có kinh nghiệm quản lý, điều hành đại học hiện đại, điều này rõ ràng là phổ biến.

Như vậy, hiệu trưởng trường đại học dân lập và trường đại học công lập có những điểm giống và khác nhau rất cơ bản. Tương đồng: Hiệu trưởng là Giám đốc điều hành, chỉ đạo mọi hoạt động tạo ra giá trị của trường đại học, định hướng phát triển chiến lược về quản lý, giáo dục và khoa học công lập từ những vấn đề vĩ mô. Công nghệ, quốc tế hóa, các vấn đề như kế hoạch tuyển sinh, phát triển ngành nghề, đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất, quy hoạch và trang thiết bị phòng thí nghiệm, xưởng thực hành; Đồng thời, hiệu trưởng phải đáp ứng các tiêu chuẩn bổ nhiệm theo quy định, có thực sự biết quản lý hay không, có giỏi quản lý hay không.

Tuy nhiên, điểm khác biệt là: hầu hết các trường đại học công lập vẫn coi hiệu trưởng là công chức nhà nước, mặc dù Nghị quyết 19-NQ-TW đã chỉ đạo về việc thuê; Ở các trường tư thục, hầu hết hiệu trưởng là người làm thuê, dù có cổ phần hay không, chỉ có một số ít hiệu trưởng cũng là nhà đầu tư.

Ở các trường công lập, hiệu trưởng không có quá 2 nhiệm kỳ nên đa số chỉ có quan điểm ngắn hạn, muốn an toàn, không dám đột phá. Trong khi các trường đại học tư thục không có quy định này nhưng nếu hiệu trưởng làm tốt và tuân thủ chỉ đạo của nhà đầu tư thì có thể giữ chức vụ lâu dài.

Như vậy, những người làm tốt và được các nhà đầu tư ủng hộ sẽ có thể đạt được những thành tựu to lớn. Hiệu trưởng các trường đại học tư thục cũng có thu nhập chính thức và chịu thuế cao hơn nhiều so với các trường đại học công lập, giúp họ dễ dàng tập trung vào công việc mà không lo kiếm tiền.

Giáo dục

Sinh viên Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng trong giờ học thực hành

Nhưng cũng có cái giá phải trả, đó là hiệu trưởng các trường đại học tư thục phải đối mặt với áp lực tăng trưởng, chất lượng, đổi mới hằng ngày (mỗi giai đoạn sẽ có áp lực khác nhau, nhưng việc xét tuyển/tăng trưởng là thường xuyên nhất). Trong khi đó, hiệu trưởng các trường đại học công lập hầu như không quan tâm, bởi các trường công lập thường dễ tuyển sinh, không ai tạo áp lực như vậy cho họ.

Hiệu trưởng các trường đại học tư thục cũng có thể phải chịu một áp lực khác, đó là mâu thuẫn với lý tưởng, mục tiêu của nhà đầu tư và định hướng phát triển của trường; Hiệu trưởng các trường đại học công lập hiếm khi như vậy, vì hội đồng trường gần như không có ý kiến khác nhau với hiệu trưởng. Bên cạnh đó, một bên nhận tiền của Nhà nước (cả toàn bộ và một phần), bên kia phải đăng ký thành công mới được nhận tiền hoạt động…, dẫn đến cách điều hành, giải quyết vấn đề khác nhau. .

Chủ đầu tư phải gặp đúng vị hiệu trưởng tài năng

Đó là một câu chuyện dài để nói về cách các nhà đầu tư có thể giúp đỡ/tạo điều kiện cho hiệu trưởng quản lý thành công trường đại học này. Thành công theo nghĩa nào, dài hạn hay ngắn hạn? Trước mắt như tuyển sinh càng nhiều càng tốt, mua trường khác càng nhiều càng tốt thì không khó.

Về lâu dài, để xây dựng trường trở thành một trường đại học có thương hiệu, thậm chí cạnh tranh được với các trường đại học công lập lớn là điều không dễ dàng. Điều kiện cần là nhà đầu tư phải gặp được những hiệu trưởng phù hợp, có tài, có năng lực, có mục tiêu quyết liệt. Điều kiện đủ là chủ đầu tư phải giao cho hiệu trưởng quyết định mọi việc và sẵn sàng cung cấp đầy đủ các điều kiện về tài chính để hiệu trưởng quyết định có hiệu lực.

Cùng với đó, các nhà đầu tư cũng phải “vì lợi ích trăm năm mà sinh lời ít ỏi hằng năm, tập trung thặng dư để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, giáo dục, quốc tế hóa, cơ sở vật chất. Rõ ràng, ở nước ta hiện nay, hai điều kiện cần và đủ này rất khó tìm, nhưng nếu có quyết tâm thực sự thì vẫn có thể làm được.

Theo TS Hoàng Ngọc Vinh, thành viên Tổ tư vấn của Ủy ban đổi mới giáo dục quốc gia giai đoạn 2016-2021, việc thay đổi hiệu trưởng liên tục sẽ phải đối mặt với thực tế “chủ trương mới, chính sách mới”. Điều này dẫn đến sự trì trệ của cả hệ thống để thích nghi với cái mới, không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý người học mà còn ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ của nhà trường.

Toàn bộ hệ thống sẽ phải thích ứng với cách quản lý, điều hành mới, chính sách mới, chương trình hay phương pháp giảng dạy mới. Tất nhiên, tính liên tục, liền mạch, tính kế thừa (không dễ nói, đúng sai) của chủ trương, chiến lược, mục tiêu phát triển sẽ không đạt được. Rồi thỉnh thoảng trường đó lại tiếp tục loay hoay tìm hiệu trưởng.

Nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh thừa nhận: Những năm gần đây, các trường đại học tư thục có nhiều tập đoàn lớn đầu tư Đây là một tín hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, khi các nhà đầu tư không hiểu về giáo dục đại học sẽ dẫn đến sự can thiệp quá sâu vào hoạt động điều hành, thậm chí có thể tàn nhẫn, một số nơi còn thiếu tôn trọng đội ngũ giảng dạy, hình thành mô hình quản trị độc đoán. đoán, tinh thần công khai, dân chủ của các trường đại học không còn cần thiết.

Do đó, mối quan hệ giữa chủ đầu tư và đội ngũ quản lý cũng không ổn định, nhiều mâu thuẫn từ ngầm đến công khai, dẫn đến thay đổi lãnh đạo, ảnh hưởng lớn đến uy tín của nhà trường.

Theo các chuyên gia giáo dục, chúng ta không nên ác cảm với lợi nhuận. Không thể yêu cầu các nhà đầu tư không tính đến lợi nhuận, vì điều này đang chèn ép đầu tư tư nhân vào giáo dục và cũng khó đòi hỏi mỗi nhà đầu tư phải có cái đầu trong sáng hay biết đặt ra lợi ích. Dân tộc cao hơn lợi ích cá nhân. Chỉ có cơ chế cấp Nhà nước ràng buộc chặt chẽ hơn, có ưu đãi để nhà đầu tư có tầm nhìn dài hạn, thấy rõ giá trị tổng thể, lợi ích tổng thể, thậm chí cả giá trị tài sản. Nếu chọn phát triển trường mình thành một trường đại học danh tiếng, thậm chí là một trường đại học ưu tú thì sẽ tăng lên nhanh chóng.

Một nhà đầu tư như vậy sẽ không yêu cầu đại học của mình phải tuyển sinh bất chấp, càng nhiều càng tốt, để có nguồn thu cả ngàn tỷ đồng mỗi năm và tính toán được lợi ích hàng năm. Mà ngược lại, họ đặt mục tiêu lợi nhuận tổng thể trong một chiều dài 20 năm chẳng hạn và đồng ý cho đại học của mình trong 10 năm đầu có thể không mang lại thặng dư, mà dành hết nguồn lực của 10 năm đó để hiện đại hóa cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thư viện, gửi nhân lực đi đào tạo tiến sĩ nước ngoài, mở rộng quỹ học bổng để tuyển học sinh tinh hoa.

Cùng với đó, họ sẽ không ngừng nâng cao thu nhập để có nguồn nhân lực tốt, đặc biệt là tuyển dụng chuyên gia nước ngoài để nhanh chóng phát triển và chuyển giao khoa học công nghệ. Một trường đại học như vậy chỉ cần 10, 20 năm là có thể lọt vào top 1.000 thế giới. Khi đã lọt vào bảng xếp hạng uy tín thì sẽ là “hương hữu cơ tự nhiên”, thu hút người giỏi đến học tập, sản phẩm sẽ là nguồn nhân lực chất lượng cao. Khi đó, các trường có thể thu học phí cao, dư thừa rất lớn trong vài chục năm tới và vẫn còn nhiều người học.

Sau 32 năm hình thành và phát triển, theo thống kê mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hệ thống đại học dân lập hiện có 65 trường (cả nước có 237 trường, chưa tính các trường thuộc khối an ninh quốc gia). Hiện nay, tỷ lệ sinh viên của các trường đại học dân lập là hơn 313.000 người, chỉ chiếm 24% tổng số sinh viên cả nước (hơn 1,77 triệu sinh viên) (trong khi chỉ tiêu là 40% sinh viên của các trường đại học dân lập). Điều này cho thấy, những năm gần đây, các trường đại học dân lập cùng với Nhà nước đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, trong khi ngân sách Nhà nước không xứng đáng.

THANH HÙNG

Leave a Reply

Your email address will not be published.