Wed. Jul 6th, 2022

Sáng 29/10, Trường Đại học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Quỹ Rosa-Luxembourg-Đông Nam Á tổ chức Hội thảo quốc tế về “Nữ quyền, Giới và Pháp luật”-Nữ quyền, Giới và Pháp luật. .

Luật nữ quyền có áp dụng cho giáo dục không?

Tại hội thảo, TS Đoàn Thị Phương Diệp, Trưởng bộ môn Luật Dân sự, Trường Đại học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã trình bày tham luận về lý thuyết pháp lý nữ quyền và ứng dụng lý thuyết. Này vào công tác đào tạo và nghiên cứu pháp luật tại Việt Nam.

“Việt Nam gần như đã hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới. Tuy nhiên, điều quan trọng là mối quan hệ giữa lý thuyết pháp luật nữ quyền với sự thừa nhận và hoạt động của nó trong giáo dục pháp luật ở Việt Nam có tồn tại hay không.

Giáo dục

Toàn cảnh hội thảo với sự tham gia của các chuyên gia pháp luật trong và ngoài Ảnh: Trúc Phương

Theo TS Điệp, bối cảnh giáo dục pháp luật về nữ quyền ở Việt Nam cho thấy, các học giả chưa thực sự quan tâm đến vấn đề giới, một trong những nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng giới.

Ngày nay, nhiều sinh viên được dạy để nhớ và hiểu luật thay vì tìm ra các quy tắc hoặc lý thuyết áp dụng cho việc phân tích các quy tắc pháp lý. Công việc của nhiều giảng viên là cung cấp cho sinh viên kiến thức pháp luật bằng cách yêu cầu họ đọc luật hiện hành, cung cấp một số trường hợp giả định với độ dài và độ khó đơn giản hóa, và yêu cầu họ giải quyết chúng.

Khi thảo luận về các vấn đề giới và phụ nữ, hầu như không có lý thuyết nghiên cứu. Không có đề cập đến lý thuyết nữ quyền hoặc lý thuyết pháp lý để giải thích các chuẩn mực. Vì vậy, lý luận pháp luật nữ quyền cần được nhìn nhận và vận dụng trong giảng dạy, nghiên cứu pháp luật để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn liên quan đến bình đẳng giới.

“Để công nhận và áp dụng lý thuyết pháp lý nữ quyền trở thành thói quen, không thể thiếu vai trò của các nhà nghiên cứu. Điều này sẽ tác động đến suy nghĩ và hành động của các nhà lập pháp và thực thi pháp luật”-TS Điệp nói.

Covid-19 ảnh hưởng đến quyền của phụ nữ

Tại hội thảo, tiến sỹ Phan Thị Lan Hương, giảng viên cao cấp Trường Đại học Luật Hà Nội và tiến sỹ Vũ Phương Ly, chuyên gia Chương trình UN Women Việt Nam đã nêu lên những tác động nghiêm trọng của dịch COVID-19 đối với thực tiễn. Thực hiện quyền của phụ nữ.

Hai nữ phát ngôn viên cho rằng dịch COVID-19 đã làm gia tăng nguy cơ bạo lực giới đối với phụ nữ và trẻ em gái do hạn chế trong việc ra quyết định về các vấn đề gia đình; Những thay đổi trong mạng lưới an sinh xã hội và tiếp cận thông tin, dịch vụ. Các nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam có thể bị tụt hậu do tác động của dịch COVID-19.

Ngoài ra, hai diễn giả cũng chỉ ra những khuyết điểm trong pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới và chống bạo lực. Cụ thể, Luật Phòng chống bạo lực gia đình có sự giải thích hạn chế về khái niệm bạo lực giới. Luật này loại trừ nhiều hình thức bạo lực phổ biến ở Việt Nam, bao gồm bạo lực tình dục ngoài giao cấu, cưỡng hiếp trong hôn nhân, loạn luân và các hành vi có hại khác như tảo hôn và bạo lực mạng.

Đồng thời, không phải tất cả hình thức bạo lực tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái đều bị hình sự hóa và bị nghiêm cấm. Chẳng hạn, việc người chồng ép buộc quan hệ tình dục, cưỡng hiếp người vợ chưa được quy định cụ thể trong BLHS. Ngoài ra, nạn nhân bị quấy rối, bạo lực giới gặp khó khăn khi đưa ra bằng chứng do thành kiến giới từ chính người bị xâm hại lẫn cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng.

Trước những vấn đề thực tiễn nêu trên, hai diễn giả cho rằng Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống bạo lực gia đình cần được sửa đổi để bao gồm tất cả các hình thức bạo lực trên cơ sở giới. Ngoài ra, Luật Hình sự nên bao gồm các hình thức bạo lực tình dục khác. Hình sự hóa quấy rối tình dục và thúc đẩy tiếp cận công lý bằng cách phát triển hệ thống tư pháp thân thiện và nhạy cảm về giới để bảo vệ quyền của phụ nữ.

TRÚC PHƯƠNG

Leave a Reply

Your email address will not be published.