Sun. Aug 14th, 2022

Nhận thức của Nguyễn Tiến Dũng về chủ quyền và lợi ích quốc gia của một số nhà cải cách ở Đông Á trong nửa cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 là cuốn sách chuyên khảo được đề cử giải thưởng. Sách quốc gia lần thứ tư, năm 2021.

Những chia sẻ của tác giả sẽ cho chúng ta biết quá trình thực hiện, cũng như những nội dung cốt lõi của cuốn sách.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử mới

– Cuốn “Ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của một số nhà cải cách ở khu vực Đông Á nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX” được thực hiện thế nào, thưa ông?

-Như tôi đã chia sẻ ở phần mở đầu cuốn sách, tác phẩm này là luận án tiến sĩ lịch sử của tôi tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Ý tưởng về cuốn sách được hình thành vào mùa thu năm 2012, khi tôi và thầy chọn một phương pháp mới cho luận án tiến sĩ của mình.

Đến tháng 7-2017, khi tôi bảo vệ xong luận án, những nội dung cơ bản của cuốn sách đã hoàn thành. Tuy nhiên, tôi chưa phát hành ngay vì muốn bổ sung, củng cố để có phiên bản hoàn thiện hơn.

Trong thời gian một năm nghiên cứu tại Đại học Zielona Góra, Ba Lan (tháng 10-2017 đến tháng 10-2018), tôi đã có khoảng thời gian quý báu để nhìn lại công việc của mình, củng cố những nội dung cốt lõi, bổ sung tài liệu. Tham khảo, ghi chú. . . Đến đầu năm 2020, tôi quyết định xuất bản cuốn sách này.

Văn hóa

Sách Ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của một số nhà cải cách ở khu vực Đông Á nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Ảnh: Việt Linh.

– Điều khiến ông cảm thấy thử thách nhất khi thực hiện cuốn sách này là gì?

-Thông thường, khi đề cập đến các vấn đề lịch sử, các nhà sử học chúng ta thường nêu lên nguyên nhân, bối cảnh, diễn biến, rồi rút ra ý nghĩa/bài học kinh nghiệm.

Trong công việc của mình, tôi đã cố gắng áp dụng một cách tiếp cận khác, đó là sử dụng lý thuyết về chủ quyền và lợi ích quốc gia để tiếp cận và phân tích ý thức/hệ tư tưởng của các nhà cải cách Đông Á. Thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Đây là điều mới mẻ nhưng cũng là khó khăn của tôi.

Khi tôi bắt đầu nghiên cứu vấn đề này vào năm 2012, lý thuyết về “chủ quyền” và “lợi ích quốc gia” ít được đề cập đến trong các nghiên cứu của Việt Nam. May mắn là trong thời gian này, tôi được thực tập ngắn hạn tại Đại học Quốc gia Singapore và được học tập/nghiên cứu các lý thuyết này dưới sự hướng dẫn của Giáo sư William Callahan, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực quan hệ quốc tế.

Bạn thấy đấy, cuốn sách của tôi có khoảng 30 trang lý thuyết về chủ quyền và lợi ích quốc gia, nhưng để thực hiện nó, tôi cần rất nhiều thời gian để thu thập tài liệu, đọc và hiểu.

– Trong chương 2 của cuốn sách, ông đã tập trung trình bày lý thuyết về chủ quyền và lợi ích quốc gia. Xin ông cho biết 2 phạm trù này gắn bó với nhau như thế nào?

-Tôi rất đồng tình với quan điểm của PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ trong lời tựa 1 của cuốn sách này. Ông cho rằng chủ quyền và lợi ích quốc gia là hai khái niệm khó tách rời, và ông đã sử dụng một thuật ngữ rất hay là “lợi ích quốc gia”.

Về “lợi ích quốc gia”, trước hết phải kể đến 4 phạm trù: quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc và nhân dân. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò quản lý, điều hành xã hội dân tộc và cá nhân, tương ứng với ba nhánh quyền lực gồm quyền lực nhà nước, quyền công dân và quyền con người.

Trong mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ quyền và lợi ích quốc gia, nếu không có một quốc gia độc lập thì không thể có chủ quyền thực sự (quyền lực tuyệt đối mà một quốc gia nắm giữ là lãnh thổ và con người) và không thể duy trì chức năng quan trọng nhất của mình là bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc (lợi ích cơ bản cốt lõi của một quốc gia, bao gồm cả lợi ích chính trị, kinh tế, an ninh và văn hóa).

Thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của bốn bộ óc ưu tú

-Trong cuốn sách, ông đã khái quát quá trình hình thành ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của các nước Đông Á trong thế kỷ 19. Cơ sở của sự hình thành này là gì?

-Theo tôi, tác động có hai mặt, chi phối ý thức chủ quyền và lợi ích quốc gia của những người cải cách trong giai đoạn này. Đây là yếu tố bên ngoài nhưng cũng là yếu tố bên trong.

Yếu tố bên ngoài chủ yếu là sức ép bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây đã gây sức ép nặng nề lên vận mệnh của các nước Đông Á. Tiếp đến là quá trình du nhập và khả năng tiếp nhận văn minh phương Tây của các nước Đông Á, đặc biệt là các nhà cải cách thời kỳ này.

Yếu tố bên trong là nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia. Trong đó, tôi đặc biệt nhấn mạnh đến truyền thống văn hóa và bản sắc xã hội. Hai yếu tố này đã định hướng cho tư duy và mô hình phát triển của mỗi nhà cải cách ở mỗi quốc gia.

Văn hóa

TS Nguyễn Tiến Dũng – giảng viên ĐH Văn hóa Hà Nội. Ảnh: Minh Châu.

– Ông đã chọn bốn nhân vật là Lý Hồng Chương (Trung Quốc), vua Mongkut (Thái Lan), Nguyễn Trường Tộ (Việt Nam) và Fukuzawa Yukichi (Nhật Bản) để phân tích về ý thức chủ quyền và lợi ích quốc gia ở khu vực Đông Á . S ự tương đồng và khác biệt giữa bốn nhân vật này là gì?

-Trước sức ép bành trướng của thực dân phương Tây, tất cả các nhà cải cách thời kỳ này đều coi chủ quyền và lợi ích quốc gia là tối quan trọng.

Tuy nhiên, sự khác biệt giữa họ nằm ở khả năng chấp nhận nền văn minh phương Tây và truyền thống chính trị, kinh tế, văn hóa và đặc điểm xã hội tương ứng của họ.

Fukuzawa Yukichi (1835–1901) là một samurai cấp trung ở Nhật Bản. Ông có những đặc điểm của giai cấp này, đó là tinh thần hy sinh quên mình, tinh thần dám nghĩ dám làm và tư duy lý trí. Vì vậy, ông đã hoàn toàn tiếp cận với nền văn minh phương Tây. Ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của Người cũng rất mạch lạc, rõ ràng, gần gũi với thế giới quan phương Tây.

Lý Hồng Chương (1832-1901) có mối quan hệ căng thẳng giữa lòng trung thành với triều đình và tầng lớp quý tộc Hán, lợi ích giai cấp và lợi ích của triều đình. Nhận thức của Li Hongzhang về chủ quyền và lợi ích quốc gia thiếu thấu đáo.

Mongkut (1804-1868) vốn là hoàng tử, một trí thức Phật giáo. Ông đi tu 27 năm trước khi lên làm vua. Mongkut rất năng động, chủ động tiếp cận văn minh phương Tây, học tiếng Anh, Latin, thực hiện các biện pháp cải cách đất nước. Mongkut cũng rất mềm dẻo, linh hoạt trong ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia.

Trường hợp Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) còn có sự đấu tranh của một trí thức Nho giáo xuất thân từ Công giáo. Các biện pháp mà ông đề xuất với tòa án là phù hợp, nhưng nó bị nghi ngờ. Mặt khác, ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của Người không vượt lên trên hệ tư tưởng phong kiến.

– Trước làn sóng xâm lược của nước phương Tây, các nhà cải cách phương Đông đã thay đổi từ quan niệm truyền thống “phụng sự cho đất nước là phụng sự cho triều đình”, sang tư tưởng “đất nước là của nhân dân”. Sự vận động và chuyển biến trong tư tưởng đó diễn ra như thế nào và nó có tác động gì đối với thế hệ tiếp ngay sau đó?

-Ý thức về chủ quyền hay lợi ích quốc gia của những người cải cách nảy sinh dưới ảnh hưởng và sức ép của thực dân phương Tây. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện của mỗi nước mà vận động, biến đổi khác nhau.

Monkut là vua, vì vậy ông đại diện cho chế độ quân chủ. Nguyễn Trường Tộ và Lý Hồng Chương dù có tư tưởng cải lương nhưng vẫn đánh cược trước tòa, không vượt qua được tư tưởng yêu nước. Fukuzawa Yukichi vẫn chủ trương duy trì sự cai trị của Thiên hoàng đối với đất nước.

So với bốn nhà cải cách Đông Á nói trên, những nhà cải cách tiếp theo mang tính thể thao và biến đổi. Điều đó có nghĩa là áp lực đối với phương Tây càng lớn thì sự tiếp xúc với nền văn minh phương Tây càng rộng, nhận thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của phương Tây càng thấu đáo và càng gần với thế giới quan phương Tây.

– Cuốn sách này có giá trị tham khảo gì trong quan hệ đối ngoại cũng như trong xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội đất nước hiện nay?

-Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ 4.0, xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ. Xu hướng này mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội, rút ngắn khoảng cách, con đường, nhanh chóng tiếp thu văn minh, hiện đại hóa đất nước. Nhưng điều này cũng đặt ra cho chúng tôi nhiều thách thức.

Dưới góc độ quan hệ quốc tế, khi hội nhập quốc tế, mỗi quốc gia đều phải gánh vác trách nhiệm quốc tế của mình, nghĩa là không thể hành động theo ý kiến chủ quan một cách đầy đủ và tuyệt đối.

Vì vậy, trong bối cảnh đó, việc xác định chủ quyền và lợi ích quốc gia là rất quan trọng, chúng ta phải xác định đâu là giá trị cốt lõi, cơ bản, vĩnh cửu và thiêng liêng của dân tộc. , đất nước ta. Với quyết tâm đó, trong từng điều kiện cụ thể, chúng ta phải có những biện pháp, đối phó linh hoạt trong công tác đối ngoại.

Thứ hai, từ góc độ người dân, chúng ta cần nâng cao nhận thức, tinh thần, trách nhiệm của mỗi người dân trong bối cảnh toàn cầu hóa. Điều này góp phần nâng cao tiềm lực quốc gia. Đây là nền tảng vững chắc của chủ quyền và lợi ích quốc gia.

Minh Châu

Leave a Reply

Your email address will not be published.