Sun. Aug 14th, 2022
Văn hóa

Nhà thờ Thiếu úy Lưỡng quốc Nguyễn Sư Mạnh sau khi được trùng tu.

Theo sử sách, Nguyễn Sư Mạnh quê ở làng Cổ Đô, xã Cổ Đô (Ba Vì-Hà Nội). Ông đỗ tiến sĩ thứ ba khoa Giáp Thìn, thời Hồng Đức 15 (1484) đời vua Lê Thánh Tông.

Năm 1500, ông được bổ nhiệm làm Sùng Tín Hậu, Bộ trưởng Bộ Lễ và được cử đi sứ sang Trung Quốc. Nhờ tài năng của mình, Nguyễn Sư Mạnh đã được vua Minh Mạng phong làm Trung úy-trở thành người duy nhất được phong tước “Trung úy đổ bộ”.

Mở bụng chữ Hùng

Theo gia phả họ Nguyễn ở làng Cổ Đô, Nguyễn Sư Mạnh sinh năm Canh Dần (1458). Cha ông vốn là người tỉnh Thanh Hóa, sau này trở thành cố đô, lấy cô gái quê này. Năm 27 tuổi, Lều Nguyễn Sư Mạnh thi đỗ thứ ba, nhận bằng tiến sĩ.

Cuốn sách viết về kỳ thi này: Vào tháng 2, kỳ thi tú tài có 44 người đỗ. Trong kỳ thi Đinh, sách hỏi Triều Tống về việc sử dụng nhà Nho và đỗ các bậc khác nhau.

Nguyễn Sư Mạnh đỗ hạng ba và nhận bằng tiến sĩ. Tên ông được khắc trong bia đá “Hồng Đức thập niên Giáp Thìn danh tiến sĩ” tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

Sau khi đỗ, Nguyễn Sư Mẫn được bổ nhiệm làm quan và làm trưởng bộ lễ, bị tước tước hiệu Song Thiên Hậu. Là người am hiểu, hiểu biết và ứng xử sâu sắc, năm 1500, vua Lê được cử làm sứ thần tại Trung Quốc.

Cho đến nay, 5 thế kỷ sau chuyến đi sứ ấy, những giai thoại về tài ngoại giao của Nguyễn Sư Mạnh vẫn còn lưu truyền và được ghi lại trong lịch sử và gia phả. Một trong những giai thoại nói rằng:

Khi gặp vua Minh Mạng, Nguyễn Sư Mạnh vô tình hay cố ý không cài cúc áo để lộ bụng. Thấy vậy, vua Minh giận dữ cho rằng, các sứ thần miền Nam rất bất lịch sự, xưng tội khi quân định trục xuất về nước.

Nguyễn Sư Mạnh cho biết: “Vì đường sá xa xôi, bụng đầy chữ, nhưng sau nhiều ngày trời tối, đường ẩm thấp, sợ mất chữ thánh nên tôi đã tự ý xin được phanh xe, mong nhà vua ân xá”.

Nghe vậy, vua Minh Mạng muốn thử tài, muốn nhân cơ hội này làm hại dân Nam Bộ nên nói: “Nếu sứ thần Nam Bộ là người hay chữ, xin giúp Thiên Triều chép lại chính Thiên Vi trong sách luận án mới bị mất”.

Văn hóa

Nhà thờ Thiếu úy Lưỡng quốc Nguyễn Sư Mạnh trước khi trùng tu.

Ký ức là trên hết

Nguyễn Sư Mạnh không ngần ngại nhận lời. Vua Minh Mạng sẽ hoàn thành trong vòng 30 ngày. Để đảm bảo rằng các sứ thần phương Nam sẽ không làm điều này, nhà Minh đã ra lệnh không được rời khỏi dinh thự trong vòng 30 ngày, đồng thời cho các tín đồ của mình theo dõi chặt chẽ.

Nhưng sau nhiều ngày, gần hết thời hạn quy định mà không thấy sứ giả miền Nam làm gì, chỉ ngồi chơi cờ. Đến ngày 25, vua Minh Mạng sai người đến nhắc nhở, Nguyễn Sư Mẫn trả lời: “Ngày mai ta sẽ viết”.

Ngày 29, Nguyễn Sư Mạnh dâng lên vua Minh một bản Thiên Vi Chính. Sau khi tiếp nhận cuốn sách, vua Minh đã khen ngợi Đại sứ có trí nhớ rất mạnh mẽ, cuốn sách hoàn toàn giống với bản gốc, chỉ có chữ “Công” có thêm một điểm dừng.

Nguyễn Sư Mạnh xưng tội vua Minh Mạng: “Thần viết thêm chấm thì bản gốc của Thượng nhất định là thừa”. Vua Minh so sánh, như Nguyễn Sư Mạnh đã nói, chữ “Công” cũng có một điểm dừng thừa.

Các vị vua nhà Minh phục tùng tài năng của Nguyễn Sư Mạnh, không có lý do gì để làm tổn thương các sứ thần phương Nam. Sau đó, vua nhà Minh ra lệnh bổ nhiệm ông làm Bộ trưởng cao cấp của Trung Quốc.

Bốn chữ “Lưỡng quốc thượng thư” được khắc trên đường họ Nguyễn ở Cờ Đỏ với ý nghĩa nhắc đến công lao của nhà ngoại giao tài ba Nguyễn Sư Mạnh.

Sau khi về nước, Nguyễn Sư Mạnh báo cáo sự việc, vua Lê Thánh Tông rất hài lòng và trao cho Thái Bình. Nguyễn Sư Mạnh xuất thơ, đọc dưới bệ rồng: Nhật Nguyệt Quang Thiên Đao/Sơn Hà phủ hoàng đế/Thái Bình không thể trả lời/Nguyệt Thăng Văn Thiên Thư.

Tóm tắt dịch: Tôn sáng như trăng, mặt trời/ Hoàng đế cai trị sông nước hùng vĩ/ Hòa bình là tự nhiên/ Ước gì mãi mãi như vậy.

Hiện nay, trên đường Nguyễn Tốc còn có câu đối: Nhất thiên luận văn, Tam an sách-Thái Bình Tử Cư, Thanh Chương luận văn. Nghĩa là: Thiên luận khắc rõ trong lòng-bốn câu thanh bình, nói bằng chữ đẹp.

Trong các triều đại phong kiến, chỉ có các triều đại Mạc Đĩnh Chi Trần, Nguyễn Trực, Nguyễn Nghiêu Tự và Nguyễn Đăng Đạo Hậu Lê được gọi là “Trạng nguyên nước đôi” vào thời Minh, Thanh của Trung Quốc. Nhưng người được phong làm “Lưỡng trung úy” chỉ có Nguyễn Sư Mạnh.

Văn hóa

Nguyễn Sư Mạnh là người duy nhất được phong “Trung úy đổ bộ”.

Theo tính toán của Ủy ban Quốc gia

Di sản văn chương của Nguyễn Sư Mạnh đã bị mai một, nhưng tài năng uyên bác của Thượng úy Nguyễn Sư Mạnh vẫn luôn được nhân dân muôn phương tôn thờ và ngưỡng mộ qua nhiều thế hệ. Năm 1990, Nhà thờ và lăng mộ Nguyễn Sư Mạnh được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia.

Theo một số tài liệu gia phả, Nguyễn Sư Mạnh được nhà Lê tín nhiệm, cấp quốc tịch, lấy công chúa và phong Vĩnh Lộc Đại Phủ, giao phụ trách các trường cao đẳng, đại học. Nguyễn Sư Mạnh được Ủy ban Quốc gia ghi nhận là người có nhiều đóng góp to lớn cho đất nước và triều Lê.

Liên quan đến sự kiện này, các tư liệu lịch sử chính như: Đại Việt sử ký toàn thư, Khang Định sử ký Việt Nam, sử ký giám mục và lịch sử các triều đại. . Di ảnh Tạ Thị Lang Nguyễn Duy Trinh, Nghi lễ Trường Trung cấp Lê Lan Hinh, Thượng Bảo Khánh Nguyễn Nho Tông bày tỏ lòng tri ân. . .

Về tên tuổi Lê Lan Hinh, cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi rõ: Dân xã Cổ Đô, huyện Tân Phong nhận đồng tiến sĩ khoa Giáp Thìn năm Hồng Đức (1484); Nguyên trước họ Nguyễn có tên là Sử Mạnh, sau này được phong họ Lê.

Được biết, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, vua Lê Thái Tổ đã phong tước, phong tước “Quốc thần” trong đó có Nguyễn Trãi.

Tuy nhiên, từ thời Lê Thái Tông, việc cấp sắc dân tộc không còn được thực hiện rộng rãi, chỉ những người thực sự có tài năng, tâm huyết mới được hưởng ân sủng này. Điều này chứng tỏ công lao của Nguyễn Sư Mạnh đối với triều đình là rất lớn.

Có giai thoại kể rằng, khi vua Lê cưới công chúa, người phụ nữ tên là bà Hoa bế đứa con trai nhỏ, quay lại nhìn trung úy Nguyễn Sư Mạnh lần cuối rồi nhanh chóng bước đi. Trong bóng hoàng hôn rơi xuống ngã ba sông. Nhà thuyền thì thầm hỏi: Đi đâu? Tại sao lại đi? Chị cười, cười: Em về ở một mình cho nhà chồng, chỉ có như vậy em mới giúp được anh ấy.

Khi Nguyễn Sư Mạnh Vinh tỏ lòng thành kính với tổ tiên và trở về làng, ông mang theo công chúa và vợ lấy vua Lê Thánh Tông, người vợ lấy cha mẹ đang ôm con mất tích.

Ông lặng lẽ ngắm nhìn bến sông nhưng cũng nhận ra sự hy sinh của một người phụ nữ có tấm lòng cao thượng. Anh tự nhủ, từ nay phải dốc toàn lực lo việc nước, sẽ dặn vợ chồng công chúa lo mọi việc trong gia đình, giữ an toàn cho gia đình.

Nguyễn Công Hoan, thân phụ của Thủ tướng Thái Lan và Thượng úy Nguyễn Bá Lân sau này viết về hai nước của Nguyễn Sư Mạnh với nội dung: Tiến Chính Thanh Hóa Cẩm Thủy Nhân/ Cố đô Hà Hành lại trở thành đệ nhất quân/ Nhị Thiên Hoàng Bang tinh thần một tuần/ Lục Bộ ở Tam Quốc Đại Quân/ Luận cương Nhất Thiện Tâm xuất bản/ Thái Bình tứ văn khai báo.

Khi Nguyễn Sư Mạnh về làm trí thức, ngôi nhà của ông quá đơn sơ, không có tường bao, tài sản vô giá trị, khoác lên mình chiếc áo trà xám nhạt. Vua Lê nghi ngờ nên bí mật sai lính canh giả làm thương lái, hỏi mua lụa để tìm hiểu sự thật. Sau khi vệ sĩ về trình báo, chỉ có nhà Nguyễn Sư Mạnh có một mảnh lụa và 5 quan. Vua Thượng, sau đó ban cho Nguyễn Sư Mạnh một hũ vàng.

Theo người dân Cờ Đỏ, Nguyễn Sư Mạnh Thọ đã ngoài 70 tuổi, nhưng sách “Quốc Đăng Khoa Lực” ghi Thọ 82 tuổi và mất ngày 16/9 âm lịch, an táng vào ngày 16/1 Đồng Tranh, Xuân Tế. Cụ bà là công chúa thời Lê, tên Thủy là vợ Ngọc Hân, tên Trần là Hứa Phủ.

Leave a Reply

Your email address will not be published.