Wed. Jul 6th, 2022
Văn hóa

Mặc dù câu chuyện về Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã có từ lâu đời, nhưng nó được ghi lại bằng những cuốn sách quan trọng và rất đầy đủ. Thích Minh Thuận nói:

So với các Thiền phái khác, Thiền phái Đại Lưu Chí Tỳ Kheo lần đầu tiên du nhập vào nước ta và hầu như ai cũng cho rằng, sau khi Trần Nhân Tông hợp nhất ba Thiền phái thì Thiền phái này đã chấm dứt. Các ni cô Dạ Lưu Chi, Võ Ngôn Thông, Thảo Dương trở thành dòng thiền mới mang tên Trúc Lâm Yên Tử.

Thích Minh Thuận dẫn chứng: Theo Thiên Uyên Tập Anh, dòng thiền này được Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người Nam Ấn truyền từ năm 580 đến cuối thời Lý, trải qua 19 thế hệ với 49 người. Tỳ khưu Thiền có nguồn gốc từ những tư tưởng Bát nhã, Sanwen và Huayan, và có xu hướng thiên về Mật giáo.

Vì vậy, dù có tinh thần lập thể nhưng vẫn chú trọng nghiên cứu kinh-luận, có xu hướng đi vào thế giới giúp ích cho cuộc sống, nên đã dùng phong thủy-sấm sét và một số tín ngưỡng dân gian như một phương tiện thân thiện. Thuật, đưa chúng sinh vào đạo. Về bản chất, Thiền phái này chủ trương vượt lên trên thực tại của hư vô và hiện hữu, từ đó đến cuộc sống con người cũng cần vượt lên trên sự sinh tử.

Chính vì vậy, tác giả Nguyễn Lang đã khái quát về Thiền phái này như sau: “Thiền phái Đại Lưu Chí Tỳ Kheo chịu ảnh hưởng chủ yếu của Phật giáo Ấn Độ, ít chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Đây là một Thiền phái rất đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, vừa thể hiện sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật giáo, vừa thể hiện cuộc sống giản dị, hiện thực của người nghèo”.

Từ những đặc điểm trên, trong lịch sử Thiền phái Thiền phái Đại Lưu Chí đã xuất hiện nhiều thiền sư kiệt xuất, có đóng góp to lớn cho đạo và đời, tiêu biểu như: Trưởng lão La Quy (852-936), Thiền sư Pháp Thuận (925-990), Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018), Thiền sư Đào Hạnh (?-11117), Tăng sư Huệ Sinh (?-1063), Quốc sư Minh Không (1066-1141), Tăng Khánh Hy (1067-1142), Quốc sư Viễn Thông (1080-1151).

Để tìm hiểu về ni cô Đại Lược và môn phái này, chúng tôi xin trích đăng bài viết của Nguyễn Hiền Đức:

Tháng 3 năm Canh Tý (580), niên hiệu Đại Tượng thứ hai, đời Chu, Thiền sư Ti-ni-đa-lu-chi đến Giáo Châu, Trác Tích, chùa Pháp Vân, sau đó dịch Đại Trí.

Khi Thiền sư Ti-ni-đa-lu-chi đến chùa Pháp Vân, trụ trì là Thiền sư Quan Duyên và đệ tử là Pháp Hiền.

Cuộc “tiếp xúc” đầu tiên giữa Thiền sư Ti-ni-đa-lu-chi và nhà sư Pháp Hiền.

Tiny Da Lugi hỏi: Họ của bạn là gì? (Như Hà Tanh?)

Pháp Hiền không trả lời câu hỏi mà hỏi lại: Hòa thượng họ gì?

Tinidariuki hỏi anh ta một lần nữa, anh không có họ (anh có vô tội không?)

Pháp chủ trả lời: Không phải là không có họ, nhưng làm sao pháp chủ có thể biết được?

Tích-ni-da-lu-chi hét lên: Biết gì không?

Bỗng “giác ngộ”, Đức Phật Pháp Hiền liền quỳ xuống cúi đầu, chỉ nhận được sự yếu đuối!

Từ đó, đạo pháp đã đi theo tổ tiên.

Tổ tiên Ti-ni-đa-lu-chi đã truyền ấn cho Hiền pháp.

Một ngày nọ, tổ tiên của Ti-ni-đa-lu-chi gọi Pháp Hiền đến Phương Trường và nói:

“Tư tưởng của Đức Phật, cái gì cũng không lừa dối, tròn trịa, không thừa, không đi, không đi, không được, không mất, không khác, không có nơi thường không có, không có nơi sinh ra, không có nơi tiêu diệt. , cũng không ra đi, cũng không ra đi, vì sự đối đầu của số phận, nên tên giả, nên ba đời Phật cũng vậy. Tổ tiên bao đời nay cũng vậy. Tôi cũng vậy, bạn cũng vậy. Cho đến khi hấp dẫn, vô tình, nó vẫn như cũ.

Đội ta tấn công, khi họ chuyển ấn cho tôi, bảo tôi vào Nam giáo dục, không nên ở đây lâu, đã đi qua nhiều nơi, đến đây. Bây giờ, tôi đã gặp bạn, đó là một kết quả bí ẩn, bạn đã khéo léo lưu nó, mở nó ra, tôi đây! “

Nói xong, tộc trưởng nhận tay nhưng đã chết [năm Canh Dần (594), đời Khải Hoàng thứ 14, đời Tử]. Pháp Hiền tổ chức lễ Trà Ty, sưu tầm hiện vật ngũ sắc, xây tháp thờ.

Sau này, vua Lý Thái Tông (1028-1054) đã làm kệ tìm thiền sư Tynidaluchi:

Mở đường vào Nam

Nghe ông giỏi tập thiền Văn Quán Cửu tập thiền

Mở niềm tin Phật, mở niềm tin Phật

Một nguồn xa, một lòng xa, một lòng đoàn kết

Lăng trăng-lăng cổ-trăng cổ

Bát sen-thành phố Nha Trang tỏa hương Bát Nhã

Khi gặp Hà, Lâm gặp kiến

Chúng tôi nói về chủ nghĩa thần bí cùng nhau. Cùng một giọng nói. ]

Tưởng của Thiền sư Ti-ni-đa-lu-chi.

Qua cuốn tiểu sử trên, chúng ta có thể thấy: Thiền sư Tinidaluchi từng học thiền nhiều năm ở Ấn Độ, sau đó sang Trung Quốc gặp Tăng đoàn tổ tiên. Sau khi được tổ tiên Tăng Xan khai sáng, ông về chùa Chế Chí Hoằng Hóa và dịch tượng Tịnh Xá đầu tiên (Tịnh Xá đầu voi). Đến Việt Nam, được gặp Phật pháp hiền lành và duyên dáng, được dịch thêm kinh Phật. Theo đó, Thiền sư Tinidaluchi chịu ảnh hưởng của Thiền tông Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam.

Thiền sư Ti-ni-đa-lu-chi ngoài việc chịu ảnh hưởng của tổ tiên Tăng Xan, còn thấm nhuần quan điểm của hai câu thơ mà ông đã dịch: Tượng Tịnh Xá đầu tiên (ở Quảng Châu); Và Kinh tướng Trí (ở Giao Châu)….

1. Tư tưởng tổ tiên Tăng Xán được phản ánh trong bài Tin Tâm Minh.

Ngay trong những lời chúc phúc của Thiền sư Ti-ni-da-lu-chi đối với Phật pháp hiền lành nói trên, chúng ta cũng thấy rõ ảnh hưởng sâu sắc của Tăng đoàn. Phở Chúc của Ti-ni-đa-lu-chi cũng giống như quan điểm của Tăng Xán trong bài Tin Tâm Minh, tư tưởng chủ đạo như sau:

Một tôn giáo lớn không khó

Không chọn đơn giản

Chỉ không yêu và ghét người chăn cừu

Thiên nhiên trong trẻo, thiên nhiên trong suốt

Con đường tơ lụa sai lầm là sai lầm

Trời đất tách rời đất trời huyền bí

Đừng nghĩ rằng đó là khả năng đảo ngược của tiền

Xuất hiện trước mắt Mac là điều có thể đảo ngược.

Tranh chấp đảo ngược tích cực

Đó là trái tim của bệnh

Tôi không hiểu Huyền chỉ không biết Huyền chỉ

Hoài Công Tinh do LaoTinh

Tha hồ như người Thái.

Không thiếu, không thừa

Nỗi lo giữ nguyên mức lương mà Thủ Thiêm tung ra

Không giống như nguyên nhân

Không đuổi theo trục Trần Mạc quyến rũ

Không có hình trụ, không có hình trụ, không có hình trụ.

Mực bình tĩnh nhất ở chủng Bình Hoài

Kết thúc tự nhiên kết thúc tự nhiên

Caojingdong Kuichidong

Ngừng di chuyển, chỉ thêm cánh di động

Càng vướng víu, hai bên càng bế tắc

Nên biết chủng an toàn nhất

…………………………….. ……………………………

Nhị phân không trụ nhị phân không trụ nhị phân không trụ

Không tìm kiếm đối tượng một cách cẩn thận

Vướng mắc với sự giàu có phi

Đốt mài làm mất tâm thất tự nhiên

Thứ hai là vì một (nhưng) øcó nhị hoa vì phải

Một cũng buông Nhất Diệc Phàm Mạc Thư

Một trái tim không sinh ra một trái tim

Tất cả các luật không có tội phạm

…………………………….. …………………………

Điều này có nghĩa là không có nghĩa

Điều này không có nghĩa là bạn có bạn bè.

Nếu không như thế Nhược bất như thị

Quyết định không giữ lại tất cả các nhà sư

Một là quan trọng nhất.

Mọi thứ đều quan trọng nhất

Nếu không, như Thị

Không có gì phải lo lắng cả.

“Không hai” tin tưởng “Không hai” tin tưởng

“Không có hai” niềm tin, không có hai niềm tin

Đạo văn

Không già cũng không già. Cổ châu Phi.

Qua bài “Tín Tâm Minh” và “Phổ Chúc” trên đây, có thể thấy Thiền sư Tinnidaluchi đã chịu ảnh hưởng của hệ thống Phật pháp Bát Nhã, ảnh hưởng của kinh Phật Hoa Nghiêm là “tất cả”. Là một, một là tất cả”, “lý trí là tất cả”, và cuối cùng đạt đến sự” vô tâm “của Bồ Đề Đạt Ma tổ hay sự” vô thức “của Lục Tổ Huệ Năng.

2. Tượng Tịnh Xá đầu tiên (đầu voi Kinh Tịnh Xá).

Bức tượng Tịnh Xá đầu tiên do Thiền sư Ti-ni-da-lu-chi dịch thời nhà Tùy (581-617) là một kinh thiền mang tư tưởng hệ thống Bát Nhã. Câu này nói về “bồ đề” và “giác ngộ”. Câu thơ:

Của chúng ta”. . . Bồ đề không có âm thanh, không sắc bén, không có âm thanh, không nhìn thấy, không vào, không biết, không đi, không đến. Đạo pháp như vậy, cũng không ràng buộc, có thể vượt lên trên Pháp, vượt lên trên ba cõi, không thấy, không nghe, không sa ngã, không ta, không ta, không tác giả, không cư trú, không hang động, không lấy, không giữ, không ra, không vào, không khát vọng, không trụ cột, không tướng lĩnh, không khác, không dây, không ảo tưởng. Nó sinh ra từ mười hai số phận, không có đất và không thể nhìn thấy, nó rời khỏi vị tướng như không có gì, chỉ có sự im lặng, không có âm thanh, không có lời nói, không có câu nói và không có lời nói. Biết được điều này, nó được gọi là “bồ đề”. … . .

Đức Phật nói với Vạn Thu Sư Lợi: “Mỗi bồ đề vượt lên trên ba cõi, vượt lên trên ngôn ngữ, rời khỏi chữ nghĩa, không có trụ cột. Tương tự, này Vạn Thu Sư Lợi, Cây cột mà Bồ tát Ma Hà Tát không có trụ là cây cột bồ đề, Cây cột không gắn bó là cây cột bồ đề, Trụ cột đi vào Phật pháp không phải là trụ cột Bồ đề, Cột nhập pháp là cột bồ đề, cột tất cả pháp không thể là cột bồ đề, cột vô lượng tín là cột bồ đề, cột không tăng giảm là cột bồ đề, cột không niệm là cột bồ đề, cột như gương, như tiếng trống trong hang, như trăng trong nước, như lửa hừng hực. Trụ Vạn Thu Sư Lợi của Phật pháp này là trụ Bồ Tí”.

Lúc đó, Thiên Tứ Tịnh Quang Diệm Bạch Văn Thụ Sử nói: “Các con tập luyện như thế nào, các con sẽ dùng nghiệp gì?

Sư thầy Văn Thù nói: “Này, trời ơi, đối với chúng sinh, chính Bồ tát là người gây ra đại từ.” …

Thiên Tứ Lai Bạch Vạn Sử Lợi: “Làm thế nào để Bồ tát Ma Hà Tát tu hành có thể gây ra sự bình đẳng cho tất cả mọi người?”

Sư thầy Văn Thù nói: “Không có ở đó, không có ở đây, không có sự khác biệt, đó là sự bình đẳng. Bồ tát nên học như thế này……………………….”

. ..Có hai điều mà Bồ tát Mahada tin tưởng và thực hành vững chắc. Hai là gì? Một là Bồ đề chánh niệm, hai là thiền định để xua tan phiền muộn. “……………”

Kinh Phật cũng chỉ có mười phép thuật: 1/ Cửa hàng bên trong của cơ thể không, Cửa hàng bên ngoài của 2/Than cũng không, 3/ Pháp quán trong và ngoài nước không có, 4/ Tất cả những tư tưởng không gắn bó, 5/ Không gắn bó với phương pháp tu hành, 6/ Không gắn bó với tư cách tôn giáo của một vị thánh, 7/ Không gắn bó với việc tu hành lâu dài, 8/ Đứng Bát Nhã Ba La Mật mà không gây gắn bó, 9/ Giảng dạy Phật pháp cho chúng sinh mà không gây gắn bó, 10/ Chúng sinh gây từ bi nhưng không gây gắn bó. ……

Kinh chỉ đề cập đến mười đức tính: trí nhân, trí, nghĩa, phương tiện trí, trí thanh lịch, trí trường thọ, trí tam bí, trí đại, lòng trắc ẩn đối với chúng sinh. ………………….

3. Kinh Đại tướng.

Khoảng năm 580-594, Thiền sư Tynidaluchi đã dịch kinh Phật từ tiếng Phạn sang chữ Hán trong thời kỳ Hoàng Hoa Thám tại chùa Pháp Vân, Giao Châu, Việt Nam. Câu thơ:

“…Lúc đó, Đức Phật nói với Di La Bồ tát Maha tát rằng:” Này Adada, Như Lai nhập Niết bàn không còn xa nữa. Đối với Phật pháp có thắc mắc, chúng tôi vẫn ở đây, muốn hỏi gì thì cứ hỏi. Sau khi Như Lai chết, đừng hối hận. “………

Adada, Bồ Đề giáo của tôi là bình đẳng giữa tất cả chúng sinh, bình yên trong lòng đại bi, giỏi sử dụng phương tiện và không quên chánh niệm. ……………………..

Đức Thế Tôn nói: “Vì thế mà ngày xưa các vị cũng đã đi tu theo pháp của Đức Phật…”.

Này, Adada, Bồ tát đã thực hành sáu La Mi hoàn chỉnh để đạt được Bồ Đề Tối Cao. …

Đức Phật nói với Adada: “Từ xưa, ta đã dành vô số thời gian để thực hành sáu La Mã mật ong. Nếu ngươi không thực hành đầy đủ sáu La Mã mật ong, rốt cuộc ngươi sẽ không trở thành Bồ Đề Tối Cao. ………………..”.

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi : “Ta trong bảy năm về trước, ngày đêm sáu thời, sám hối các trọng tội do nghiệp thân, miệng, và ý tạo ra. Từ đó về sau mới được thanh tịnh, trải mười kiếp rồi chứng được pháp nhẫn. ……

Đức Phật nói với sư thầy Văn Thù: “Bồ tát nên học bốn phương pháp bình đẳng. Một là Bồ tát bình đẳng với tất cả chúng sinh. Thứ hai là bình đẳng về mọi pháp luật. Thứ ba là bình đẳng về giác ngộ. Bốn là bình đẳng về thuyết giảng…”.

Theo đó, những câu thơ chung về thiền:

-Sáu lần ngày đêm, ăn năn hối cải trọng tội do thân, miệng, ý nghiệp gây ra;

-Bình đẳng với chúng sinh, bình đẳng với Đạo pháp khi giảng đạo và giác ngộ.

-Đứng ở trung tâm của đại bi,

-Chánh niệm không quên.

-Sử dụng thành thạo các phương tiện;

-Thực hành hoàn chỉnh sáu La Mật (sáu độ).

Sáu kinh sách, về sáu bí mật La Mã, hoặc sáu cách để đạt được giác ngộ:

1/ Bố thí Ba La Mật.

2/ Bộ ba.

3/ Kiên nhẫn với ba mật.

4/Tịnh Tân Ba La Mata

5/ Thiền Balami.

6/ Tình báo mật Bala.

Có bốn bước để thiền Sanromi:

1/ Hạnh thiền thứ nhất : phải trừ bỏ tham ái, sân hận, tà dâm, mắt ham sắc, mũi thích mùi hương, tai nghe tiếng, miệng nếm vị, thân ưa tốt. Tu ở nơi thanh vắng hay núi non, xa tình dục, thân trong sạch, tâm thanh tịnh an lạc …

2/ Thiền thứ hai: Tâm an, không còn cần thiện ác, không còn phân biệt tả hữu. Cái ác không phải do tai, mắt, mũi, miệng gây ra. Trái tim nhân hậu….

3/ Thiền thứ ba: Thân thể trong sạch, tránh xa thiện ác, tả hữu, công bình; Đồng thời, tôi không còn thấy trái tim mình trong sáng, trái tim tự nhiên. . .

4/ Thiền thứ tư: Tâm sáng như Lưu Ly, vô tư, không có gì ô nhiễm; Quan trọng nhất, niết bàn đã được thực hiện. . . Của các tổ chức, cá nhân; Có thể biến đổi, phân tán. . .

Thứ hai. Sự kế thừa của Thiền phái

Giáo phái Zen Ti-ni-da-lu-chi kế thừa 19 thế hệ:

1. Thế hệ thứ nhất: Thiền sư Pháp Hiền (?-626).

Thiền sư Pháp Hiền quê ở Chu Diên (tỉnh Sơn Tây), dáng người cao 7 mét 3 tấc (khoảng 2,30m), là trụ trì chùa Hồ Thiên trên núi Thiên Phúc (núi Phật Tích), huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh).

Hòa thượng giảng đạo cùng Đại tăng thống Quan Duyên tại chùa Pháp Vân (chùa Dậu), Trung tâm Phật giáo Liên Chiểu. Hàng ngày, họ được nghe giảng về sự yếu đuối của Thiền tông với các nhà sư.

Năm 580, Thiền sư Tinidaluchi từ Trung Quốc đến chùa Pháp Vân. Tổ tiên của Ti-ni-đa-lu-chi gặp Hiền Pháp, nhìn thẳng vào mặt ông và hỏi: Ông họ gì?

Thay vì trả lời câu hỏi, nhà sư hỏi ngược lại: Họ của nhà sư là gì?

Chảo hỏi lại: Anh không có họ à?

Nhà sư trả lời: Họ không phải là không có, nhưng làm sao nhà sư biết được?

Cả đội hét lên: Biết gì không?

Đức Pháp chủ hiền lành bỗng thấy yếu đuối, liền quỳ xuống cúi đầu, sau đó được thiền định.

Sau khi Tổ sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi viên tịch, Sư lên núi Phật Tích tu tập thiền định; thân như cây khô; vật “ngã” đều quên; chim bay đến vây quanh, dã thú quấn quít đùa giỡn quanh sư …

Người đương thời thấy thế càng thêm kính mộ, đệ tử tìm đến tham học ngày càng đông. Vì thế, Sư mới lập chùa Chúng Thiện trên núi Phật Tích để truyền dạy đệ tử. Số tăng chúng đông đến hơn 300 người.

Kể từ đó, giáo phái Zen Tinidaluchi ở miền Nam bắt đầu phát triển mạnh.

Lưu Phương, đời Sử trị vì Giao Châu cũng nghe danh Thiền sư Pháp Hiền và dâng lễ vật lên cung đình Từ: “… cõi này (Giao Châu) từ lâu đã thờ mộ Phật giáo và tôn trọng đức độ của các nhà sư…” .

Khoảng năm 603, vua Tuy sai sứ thần đến dâng 5 hòm tượng Phật và thông điệp cho sư sãi và ra lệnh xây tháp cúng.

Thiền sư Pháp Hiền đã chọn 5 thánh địa để xây tháp thờ Phật: Giao Châu (Trung tâm Phật giáo Liên Chiểu), Phong Châu (Phú Thọ), Trường Châu (Ninh Bình), Ái Châu (Thanh Hóa), Hoàn Châu (Nghệ An-Hà Tĩnh).Thiền sư Pháp Hiền mất năm Bính Tuất (niên hiệu Vũ Đức thứ 9).

Thiền sư Phật Pháp có nhiều đệ tử, nhưng vì không có tài liệu nên không biết có bao nhiêu đệ tử đã học được Pháp?

2. Thế hệ thứ hai: Trong sách tiếng Anh thế hệ thứ hai chỉ có một vị trí nhưng không có tên gọi hợp pháp?

3. Thế hệ thứ ba: Trong cẩm nang tiếng Anh thế hệ thứ ba chỉ có một vị trí duy nhất nhưng không có tên gọi hợp pháp. Tuy nhiên, qua đọc tiểu sử Thiền sư Thành Biên, chúng ta được biết, vị tổ thứ ba của Thiền phái Tinidaluchi là Thiền sư Huệ Nghiêm, trụ trì chùa Sùng Nghiệp.

4. Thế hệ thứ tư: Thiền sư Thanh Biên (?-686).

Năm 12 tuổi, Thiền sư Thanh Biên họ Đỗ, quê ở Cổ Giáo (nay là Văn Điển, Hà Nội) theo học cùng Hòa thượng Pháp Đăng ở chùa Phổ Quang. Khi Hòa thượng Pháp tuyên bố sắp làm Tổng thống, Thành Biên hỏi: Sau khi Hòa thượng ra đi, tôi phải trông cậy vào ai? Nhà sư trả lời: “Chỉ có nghiệp thôi!”. Nhà sư ngu dốt không hiểu gì cả.

Sau khi Hòa thượng qua đời, nhà sư Thanh Biên chuyên nghiên cứu kinh Kim Cang không có thầy.

Một hôm, một du khách thiền đến chùa Phổ Quang, thấy sư thầy hô kinh Kim Cang, hỏi: Kinh này nói đây là mẹ của ba đời Phật. Vậy Đức Phật Mẹ có ý nghĩa gì?

Sư thầy trả lời: Tôi đã đọc kinh từ lâu rồi, nhưng tôi không biết kinh.

Thiền sư hỏi: Thầy đã hành kinh bao lâu rồi?

Nhà sư trả lời: Đã tám năm rồi.

Thiền sư nói: Bạn đã giữ Kinh thánh 8 năm, nhưng bạn không hiểu kinh thánh, dù bạn có đọc nó cả trăm năm cũng chẳng ích gì! ! !

Nhà sư làm lễ và nhờ thiền khách hướng dẫn. Khách bảo ông lên chùa Sùng Nghiệp thiền sư Huệ Nghiêm xin thầy.

Nhà sư chợt tỉnh dậy và nói: Bây giờ tôi biết Hòa thượng Pháp Đăng nói đúng!

Theo lời các vị thiền khách, sư thầy lên đường đến với Hòa thượng Huệ Nghiêm tại chùa Sùng Nghiệp. Khi Thanh Biên đến, Hòa thượng Nghiêm hỏi: Ngài đến đây để làm gì?

Nhà sư trả lời: Có điều gì đó trong lòng tôi không hiểu.

Nhà sư hỏi: Không hiểu gì?

Giáo sư kể lại cuộc trò chuyện với khách hôm trước.

Nhà sư phàn nàn: Các anh quên hết rồi! Tại sao bạn không nhớ rằng trong kinh sách có nói: “Ba đời Phật và Anauda Phật pháp là ba ba vị bồ đề, tất cả đều ra đời từ kinh đó. Đó không phải là mẹ của Đức Phật sao?”

Nhà sư trả lời: Đúng là đệ tử còn hoang mang lắm.

Nhà sư hỏi lại: Ai nói vậy?

Nhà sư trả lời: Không phải như đã nói sao?

Hòa thượng nói: “Nếu nói Như Lai có thuyết pháp thì sẽ diệt Phật”. Vấn đề này không thể giải quyết được. Hãy thử nghĩ xem, nếu bạn nói rằng kinh sách không phải là lời của Đức Phật, đó là sự báng bổ kinh sách; Nếu nói kinh Phật thì đó là sự vu khống Đức Phật. Anh định làm gì? Nói đi! Nói đi! “

Nhà sư định mở miệng trả lời Hòa thượng Huệ Nghiêm vung trần đánh vào miệng. Nhà sư đột nhiên tỉnh dậy rồi quỳ xuống.

Sau khi đến trụ trì chùa Kiến Dương, Hoa Lâm Hương, xã Thiên Đức (huyện Đông Yên, tỉnh Bắc Ninh), sư Thanh Biên đã giảng dạy cho các em.

Thiền sư Thành Biên mất năm Bính Tuất (686), niên hiệu Thủy Cung, nhà Đường.

5. Thế hệ thứ năm: Thiền sư (mất tích).

6. Thế hệ thứ sáu: Thiền sư (mất tích).

7. Thế hệ thứ bảy: Trong sách hướng dẫn tiếng Anh thế hệ thứ bảy chỉ có một vị trí duy nhất nhưng không có tên gọi hợp pháp (bỏ sót). Tuy nhiên, khi đọc tiểu sử Thiền sư Đình Không trong cuốn sách này, chúng ta được biết nhóm thứ 7 của Thiền sư là Thiền sư Nam Dương Hoàng Hoa ở chùa Long Tuyền.

Số 8.Thế hệ thứ tám: Ba thiền sư, sách cũ ghi lại thiếu hai người, chỉ còn lại thiền sư có ý định không.

Đình Khang (730-808).

Thiền sư Đinh Không họ Nguyễn (họ Lý), xuất thân từ quê Cổ Pháp (Trung tâm Phật giáo Liên Lâu), thuộc dòng họ Vọng. Ông là người am hiểu vận mệnh thế giới, tuân thủ các quy tắc, người dân trong làng gọi ông là già làng.

Khi về già, Nhân đi dự lễ Phật pháp ở chùa Long Tuyền, nghe Hòa thượng Nam Dương thuyết pháp, ông hiểu được điểm yếu của mình nên khấn Phật.

Khoảng thời Trịnh Nguyễn (785-805) đời Đường, Thiền sư Đinh không xây dựng chùa Quỳnh Lâm ở làng Hương. [Cổ Pháp Hương, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh]. Khi xây chùa, người đào móng gặp một lư hương và mười lễ hội bằng đồng. Nhà sư sai người mang xuống sông rửa, một người mồ hôi chìm xuống nước, đến khi chạm đất thì ông mới đứng yên. Nhà sư giải thích, mười nhân chìm xuống nước đến tận đáy (mặt đất) theo bản dịch số: Chữ thập và chữ trọng tạo thành chữ “cổ”; “Nước” và “Quá khứ” sáng tác “Pháp”; Từ “đất” có nghĩa là nơi chúng tôi sống, đất của làng. Lúc đó, sư thầy đổi tên làng thành Cổ Pháp. Nhà sư lại làm “Sấm sét” với nội dung như sau:

Vùng đất cung cấp khí đốt của Pháp và khí đốt của địa

Đồ đồng tinh khiết nhất

Gặp gỡ thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo, Phật tử Chí Long Hưng

Đặt tên làng là Cổ Pháp để lập Danh Chi Cổ Pháp hương

Nhà sư còn có một bài hát sấm sét khác:

Vũ khí ma thuật xuất hiện, vũ khí ma thuật xuất hiện

Mười cây thánh giá bằng đồng

Dòng họ Lý được vua Lý Thị Hùng Vương

Ba sản phẩm thành công Ba sản phẩm thành công.

Nhà sư lại nói:

Mười người xuống nước, mười nước và đất

Cổ Pháp là tên gọi của làng cổ Pháp DNH Hương Hiếu

Gà rời Cù Loan sau tháng chuột [cố] tháng (*)

Đó là khi ba kho báu đang thịnh vượng, khi ba kho báu đang thịnh vượng.

(*) chữ “loan” có thể là chữ “thử”, câu nầy có nghĩa là “ Tháng chuột năm gà” tức là tháng Tý (tháng 11) năm Gà (năm Dậu, hay đúng hơn là năm Kỷ Dậu), báo trước là tháng 11 năm [Kỷ] Dậu thì Phật giáo hưng thịnh; ứng nghiệm với việc vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) lên ngôi vào tháng 11 năm Kỷ Dậu (1009); hợp với bài sấm ký của Thiền sư La Quý sau đó.

Khi sắp mất, thiền sư định không gọi người đệ tử tốt của mình đến dạy: Ta muốn mở rộng làng, nhưng ta sợ bỏ cuộc giữa chừng vì có “kẻ lạ” phá hoại huyết mạch của đất nước ta. Sau khi ta chết, ngươi đã khéo léo giữ lời này, và khi gặp người nhà Đinh, ngươi đã truyền lại lời này cho ta. Bằng cách này, điều ước của tôi đã thành hiện thực. “

Nói xong, sư thầy tiễn biệt và qua đời, hưởng thọ 79 tuổi, năm Mậu Tý, năm Nguyễn Hòa thứ ba, đời Đường (năm 808). Sư Thông Thiện cho xây tháp ở phía tây chùa Lục Tổ và viết điều ước của Thiền sư Đinh Không, nhưng lại chôn cất!

9. Thế hệ thứ 9: Trong sách tiếng Anh thế hệ thứ 9 có 3 thiền sư nhưng đều có khiếm khuyết, tuy nhiên, nhờ tiểu sử của Thiền sư Đinh Không và Thiền sư La Quý, chúng ta biết được tổ tiên thứ 9 của Thiền phái Tinnidaluchi là Thiền sư Thông Thiên tại chùa Thiên Thiện; Nhờ tiểu sử Thiền sư Pháp Thuận, chúng ta biết thêm một vị tổ đời thứ 9 nữa là Thiền sư Phú Trí ở chùa Long Thọ.

10. Thế hệ thứ 10: Sách viết bằng tiếng Anh: “Bốn người, một người khuyết tật”; Ba thiền sư La Quý, Pháp Thuận, Mã Hà; Thiền sư Khiếu Lực là Thiền sư Võ Ngại (?) Tại chùa Sơn Tinh, huyện Cửu Chân.

Riêng Thiền sư Mahamaca hay Mahamaca là đệ tử của Thiền sư Pháp Thuận, nên Thiền sư Mahamaca thuộc đời thứ 11 chứ không phải đời thứ 10 như sách Tutanr đã viết!

A. Thiền sư La Quý (?-?)

Thiền sư La Quý họ Đinh, quê ở An Chấn (?) . Khi còn trẻ, Vân đi du học tôn giáo, thiền ở nhiều nơi với nhiều đức thiền, nhưng không gặp duyên đạo, sắp thối rữa. Cũng may, từ khi được nghe thầy Thông Thiện giảng đạo giác ngộ tại buổi Pháp hội ở chùa Thiên Hộ, chúng tôi kính trọng và xin tỵ nạn.

Trước khi qua đời, Thiền sư Thông Thiện đã nói với sư phụ La Quý: “Ngày xưa, sư phụ Định Công của tôi có dặn tôi phải giữ đạo pháp của ngài, khi tôi gặp gia đình nhà Định thì ngài truyền lại. Lúc tôi phải ra đi, ngài là người nhận nhiệm vụ.”

Chứng kiến xong, sư thầy đi khắp nơi hoằng pháp, chọn đất xây chùa. Mỗi từ được nói là “Sấm sét”. Nhà sư từng đúc tượng vàng Lục Tổ Huệ Năng để thờ tại chùa Lục Tổ, sau đó chôn tượng tại chùa này và dặn đệ tử: “Gặp Minh Vương thì đào lên, gặp hôn quân thì giấu đi”.

Năm Bính Thân, niên hiệu Thành Thái thứ 3 (936) đời Đường, Thiền sư La Quý trồng bông, trồng lúa tại chùa Châu Minh, Cổ Pháp Châu và làm những trận sấm sét như sau:

Con rồng bắt đầu.

Cu giấu đuôi Châu Minh Cu Vi giấu Châu Minh

Mười tám con trai (thời Lý) đã quyết định trở thành mười tám con trai

Cây lúa thể hiện hình rồng

Thử nghiệm thỏ, gà trong tháng chuột Nguyệt Nội (*)

Chắc chắn bạn sẽ thấy thiên đường thiên vị Nhật Bản.

(*) Tháng Tý (tháng 11) năm Dậu (năm Đinh Dậu = năm 1009), vua Lý Thái Tổ lên ngôi, thành lập triều đại Nhà Lý làm hưng thịnh đất nước, giúp Phật giáo phát triển …

[Xem thêm tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh với “Đại Việt sử ký” và “Đại Việt sử ký toàn thư”]

Thiền sư La Quý đã dạy dỗ họ tại chùa Sông Lam, làng Phù Ninh, tổng Thiên Đức (nay là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

Trước khi cụ La Quý gọi đệ tử là Thiên Ông, cụ kể: “Trước đây, Cao Biền xây thành trên sông Tô Lịch, vì biết đất Cổ Pháp có khí thế hoàng đế nên chúng tôi đào sông Diêm (thuộc tỉnh Bắc Ninh). Nay] và ao Phú Diễn (huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay) cắt rồng đến 19 vị trí. Tôi hướng dẫn Khúc Lâm trở về như trước. Bên cạnh đó, chúng tôi trồng cây bông lúa ở chùa Châu Minh (ở Cổ Pháp) để đảm bảo nơi bị chặt chém; Như vậy, trong tương lai, nước ta sẽ có Hoàng đế lập pháp [Phật pháp]. Sau khi ta chết, ngươi nên phủ đất lên, xây bảo tháp, dùng phép thuật giấu vào bên trong, đừng để người ngoài biết. “

Nói xong, La Quý Viễn qua đời, hưởng thọ 85 tuổi.

Thiền sư B. Pháp Thuận (915-990).

Thiền sư Pháp Thuận họ Đỗ, không biết quê quán ở đâu, Hoàng Hoa ở chùa Cổ Sơn, làng Thư, huyện Ái (?) , học rộng, thơ hay, am hiểu thế giới, có tài giúp vua.

Từ nhỏ, sư thầy đã trở thành một nhà sư, học cùng thiền sư tại chùa Long Thọ.

Sau khi đắc pháp, những gì nhà sư nói phù hợp với sấm sét.

Khi nhà Tiền Lê mới lập nghiệp, các nhà sư có lợi thế trong hoạch định và quyết định chiến lược. Sư phụ Taiping không nhận được giải thưởng. Vua Lê Đại Hành (980-1005) càng kính trọng hơn, thường không gọi tên mà chỉ gọi ông qua các pháp sư và giao cho các nhà sư soạn thảo văn bản.

Năm 987, Lý Giác Sáng, sứ giả nhà Tống, nhà vua sai một nhà sư cải trang thành người lái đò để theo dõi hành động của ông. Khi thuyền qua sông, tôi thấy hai con ngỗng đang bơi, Lý Giác đắm mình:

Ngỗng, Ngỗng, Một Ngỗng, Đôi Nga, Đôi Nga, Đôi Nga

Ngửa mặt ngó ven trời. Ngưỡng diện hướng thiên gia.

Nhà sư cầm mái chèo nói tiếp:

Lông trắng phơi mình trong dòng suối xanh, Lông trắng phơi mình trong dòng nước xanh

Sóng xanh chân hồng bơi. Hồng trạo bãi thanh ba.

Cảm giác thật đáng khâm phục.

Vua thường hỏi Nga81N hay Long, sư thầy trả lời:

Nước quấn lấy đất nước như mây

Nam trời mở Nam trời Thái Bình

Vi vi vi vi trên nguồn điện

Không có binh sĩ nào ở đất nước này. Vùng đất này là những người lính giận dữ.

Thiền sư Pháp Thuận Tích thọ 76 tuổi vào năm Hưng Thông thứ hai, đời vua Lê Đại Hành (990). Nhà sư từng viết sách Bồ tát với “Văn xưng tội” (1 tập), lưu truyền trong đời sống.

11. Thế hệ thứ 11: Tutanl viết: 4 thiền sư, trống 2.

Cuốn sách này viết tiểu sử của Thiền sư Vương Đạo và Thiền sư Song Vân. Ngoài ra, như đã nói ở trên, thiền sư Mahamaja cũng thuộc thế hệ thứ mười một.

A. Thiền giả ông Đạo (902-979)

B. (1004-1087).

C. Thiền sư Mahamaja

12. Thế hệ thứ mười hai: Sách của Tutanl viết: “7 người, 2 người tàn tật”.

A. Thiền sư Vạn Hạnh (?-1025)

B. Thiền sư Đình Huệ.

C. Thiền sư Đào Hạnh (?-1116)

D. Thiền sư Trí Bát (1049-1117)

E. Thiền sư thuần khiết (?-1105)

13. Thế hệ thứ mười ba: Sách Tutanl viết: “6 người, 2 người tàn tật”.

A. Nhà sư Thuận Hữu (?-1064)

B. Zen Zen Lava (1093-1163)

C.Quoc Su Minh Khong(1066-1141)

D. Thiền sư bản xứ (?-1139)

14. Thế hệ thứ mười bốn: Sách Tutanl viết: “4 người, 3 người tàn tật”.

Sơn Hà KhanhHy1067-1142

15. Thế hệ thứ mười lăm: Sách Tutanr viết: “3 người, 1 người tàn tật”.

A. Thế giới Thiền sư

B. Thiền sư Pháp Dung (?-1174)

16. Thế hệ thứ 16: Sách Tutan: 3 người.

A. Thiền sư Trí Nhân

B. Chân không Thiền sư (1046-1100)

C. Thiền sư Đào Linh (?-1203)

17. Thế hệ thứ 17: Sách Tutan: 4 người, 1 người tàn tật.

A. Ni sư Diệu Nhân (1042-1113)

B. Thiền sư Viên Học (1073-1136)

C. Thiền sư Tịnh Thiên (1121-1193)

18. Thế hệ thứ mười tám: Tutanr viết: 2 người, 1 người tàn tật.

-Vuksuvienteng 1080-1151 Tass

19. Thế hệ thứ 19: Tutanl viết: 2 người, 1 người tàn tật.

-Thiền sư Y Sơn (?-1213)

Thế Sơn (th)

Leave a Reply

Your email address will not be published.