Sat. May 21st, 2022
Lao động - Việc làm

Đồng bào Dao thu hoạch lê-cây trồng chủ lực giúp dân xóa đói, giảm nghèo.Ảnh: TTXVN

Các kiểu di cư của đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía

Thứ nhất, di cư có kế hoạch (do tác động của dự án, di cư có tổ chức thường là di dời các hộ gia đình ra khỏi nơi ở của họ).

Hiện tại, các phong trào hoặc chính sách “kinh tế mới” (di cư theo kế hoạch) như những năm 1960, 1970 và 1980 không còn tồn tại, mà chủ yếu là di cư trong tỉnh và khu vực. Sự di chuyển này xảy ra trong các trường hợp sau:

1- Di dân chuẩn bị các dự án (dự án thủy điện, khu công nghiệp…) Công tác giải phóng mặt bằng: Tỉnh Lạng Sơn vừa qua chủ yếu di dời tại Trường bắn Quốc gia 1 nằm giữa hai tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn (thuộc huyện Lộc Bình). Tổng số hộ tái định cư của dự án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là 111 hộ (638 khẩu). Có hai loại điểm đến cho loại hình di dân này: Thứ nhất, tình trạng các hộ dân được Nhà nước bố trí tái định cư ở những vùng đất trống có thể tái định cư xen ghép, được Chính phủ quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng. Thứ hai, nếu các hộ dân không chấp nhận tái định cư theo sự bố trí của Nhà nước thì tự nguyện tìm chỗ ở mới sau khi nhận được kinh phí bồi thường theo quy định. Nhóm này chủ yếu lên Tây Nguyên mua cao nguyên về sản xuất. Họ thường đi theo nhóm gia đình và được chính quyền địa phương hỗ trợ thêm về cơ sở hạ tầng. Khoản tài trợ này được trao đổi giữa nước xuất phát và nước đến. Cho đến nay, việc liên lạc và duy trì thông tin cuộc sống của nhóm người nhập cư này vẫn được chính phủ nước xuất xứ duy trì. Để phát huy lợi thế, phát triển các công trình thủy điện, tỉnh Sơn La đã di dời số lượng lớn các hộ dân để xây dựng thủy điện Hòa Bình, Sơn La và các thủy điện nhỏ như thủy điện Nậm Chiến 1-2. , Huội Quảng, Mường Bú, Sập Vạt, thủy điện Keo Bạc. . . (hiện có 49 nhà máy thủy điện). Việc tái định cư liên quan đến các dự án thủy điện là trách nhiệm của chính quyền và doanh nghiệp (thủy điện). Các cơ sở này phải thực hiện đầy đủ chính sách tái định cư theo nguyên tắc “đời sống nơi đến phải cao hơn hoặc bằng đời sống trước đây”.

2- Di cư khỏi rừng đặc dụng, di cư do thiên tai và môi trường: Đây là di cư bị động của chính quyền và người dân. Để bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, chính quyền đã tổ chức cho người dân sinh sống, sản xuất trên địa bàn di dời đến nơi ở mới. Nhìn chung, loại hình di cư này không nhiều so với các loại hình khác. Trong một số trường hợp, trên địa bàn, nhu cầu di dân chủ yếu xuất phát từ người dân, họ đã chủ động đề nghị chính quyền hỗ trợ. Để tránh thiên tai ở những vùng có nguy cơ sạt lở hoặc di dân ra khỏi rừng đặc dụng, chính quyền cho phép người dân được lựa chọn chỗ ở và hỗ trợ di dời. Trong quá trình cư trú sau này, chính quyền nước xuất xứ thường xuyên trao đổi với người di cư, thậm chí thường xuyên cử cán bộ đến tận nơi cư trú của người dân (trong đó có Tây Nguyên) để nắm bắt thông tin, quan tâm và hỗ trợ cần thiết.

Thứ hai, dân di cư tự do (vào các vùng kinh tế mới như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ).

Đây là những người nhập cư không nằm trong chương trình nhập cư của chính phủ và do người nhập cư quyết định, từ việc lựa chọn địa điểm nhập cư đến việc chi trả mọi chi phí đi lại, tìm kiếm việc làm. . .

Di cư tự do là vấn đề nóng trong những năm 90 của thế kỷ 20 trở về trước, chủ yếu là dân di cư của đồng bào Tày, Nùng, Thái, Mông, Dao… . . Tuy nhiên, sự di cư này dường như không đáng kể trong 5 năm qua. Địa phương có số dân di cư tự do nhiều nhất là tỉnh Hà Giang: Đồng Văn 10 năm (2007-2017) có 36 hộ (152 nhân khẩu) di cư tự do vào Tây Nguyên, trong đó có 20 hộ (76 nhân khẩu) đã hồi sinh. Nơi cư trú; Trong giai đoạn 2013-2017, tại Hoàng Su Phì có 56 hộ (233 nhân khẩu) di cư tự do, 20 hộ (81 nhân khẩu) trở về.

Thứ ba, di cư lao động (di cư tạm thời đến làm việc ở khu vực khác hoặc chỉ di cư theo mùa vụ, nhà cửa, cơ sở vật chất ở nông thôn vẫn được giữ lại để khôi phục lại nơi cư trú lâu dài).

Đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở các tỉnh miền núi phía bắc có hai loại hình di cư lao động chủ yếu.

1- Di cư lao động đến các doanh nghiệp công nghiệp trong nước (chủ yếu là đến các tỉnh Bắc Ninh và Thái Nguyên, nơi tập trung các khu công nghiệp. Đối tượng chủ yếu của đợt di cư này là thanh niên. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, thanh niên trở thành công nhân, nhóm di cư này phải đối mặt với những thách thức về cường độ làm việc cao, đòi hỏi sức khỏe, kỷ luật lao động…

Số lao động dân tộc thiểu số di cư tại các tỉnh miền núi phía Bắc không nhiều, phần lớn đã nghỉ việc sau thời gian thử việc hoặc đã có việc làm nhưng phải rời bỏ công nghiệp do không chịu được áp lực công việc và phương thức làm việc. Đồng bào dân tộc thiểu số nói chung phải tham gia đầy đủ vào công việc của quê hương, gia đình, dòng họ, làng xóm. Vì vậy, khi có những công việc này, họ thường nộp đơn hoặc nghỉ việc để tham gia. Đây là điều khó chấp nhận đối với các doanh nghiệp kinh doanh theo chuỗi.

Cấp ủy, chính quyền địa phương rất quan tâm đến công tác di cư lao động này, bởi đây được coi là một trong những biện pháp quan trọng để xóa đói, giảm nghèo bền vững ở địa phương. Để tạo thêm động lực cho số lao động di cư này, tỉnh Hà Giang đã xây dựng kế hoạch hỗ trợ người lao động tham gia xuất khẩu lao động và đi làm việc ngoài tỉnh. Mỗi lao động đi làm việc ở nước ngoài sẽ được Chính phủ hỗ trợ 2 triệu đồng khi người lao động đáp ứng đủ các điều kiện; Hỗ trợ 1 triệu đồng cho người lao động đi làm việc ngoài tỉnh.

2. Di cư lao động thời vụ (nhàn rỗi, tính lương theo ngày, tuần). Đây là luồng di chuyển lớn nhất trong tất cả các loại hình di chuyển. Cả hai khu vực này đều cho thấy luồng di cư này. Thứ nhất, di cư lao động trong nước: Người dân tộc thiểu số lên thành phố làm việc cho các nhà thầu xây dựng, doanh nghiệp tư nhân nhỏ hoặc giúp việc gia đình. Đây là luồng di cư lao động khá phổ biến hiện nay vì phù hợp với trình độ, khả năng và thời gian của người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thứ hai, di cư lao động qua biên giới (Trung Quốc và Lào): Họ trở về theo mùa vụ, thời gian làm việc có thể một hoặc hai tháng, có thể một hoặc hai tuần. Để ngăn chặn tình trạng đi lại, cư trú bất hợp pháp, chính quyền địa phương đã tích cực thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Nhà nước, các vấn đề liên quan đến an ninh trật tự, thủ tục. Qua biên giới hợp pháp, tạo điều kiện cho người di cư lao động hợp pháp. Tóm lại, mục đích và động cơ của các dòng người di cư này chủ yếu là vì mưu sinh, tìm việc làm để tăng thu nhập, cải thiện đời sống và sửa chữa, xây nhà mới, mua sắm phương tiện đi lại. . .

Dự báo xu hướng di cư của đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi

Thứ nhất, di cư theo kế hoạch: Do yêu cầu bảo vệ vùng sinh thái tự nhiên, di cư theo kế hoạch trong phạm vi tỉnh, huyện vẫn tiếp tục diễn ra; Tránh nguy cơ sạt lở đất và thiên tai; ô nhiễm môi trường do sự phát triển nóng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là đáp ứng yêu cầu xây dựng các công trình thủy điện.

Thứ hai, di cư tự do: Do có sự giám sát chặt chẽ của chính quyền các cấp ở nơi đi và nơi đến, điều kiện môi trường sản xuất ở nơi đến không còn thuận lợi như trước, vấn đề thực hiện chính sách, nguồn trợ cấp (không áp dụng đối với người cư trú bất hợp pháp). . . , nên trong thời gian tới, dòng người di cư này sẽ ngày càng ít đi.

Thứ ba, di cư lao động: Đây sẽ là một dòng di cư phổ biến, ngày càng gia tăng, bao gồm ba hình thức chính. 1- Di cư lao động sang doanh nghiệp: Sự di cư này là kết quả tất yếu của quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, dòng người di cư này có gia tăng hay không còn phụ thuộc vào nhận thức và khả năng thích ứng của đồng bào dân tộc thiểu số với môi trường lao động công nghiệp. 2- Di cư lao động sang các nước láng giềng: sẽ ngày càng gia tăng do chênh lệch thu nhập và điều kiện giao lưu, hội nhập ngày càng sâu rộng. Chính phủ hai nước tăng cường kiểm soát giữa hai chính phủ, cũng như kéo dài thời gian quá cảnh, phân cấp thủ tục cấp phép cho chính quyền cơ sở (cấp xã). Thuận lợi cho việc đi lại hợp pháp của người dân. Vì vậy, ở cấp độ quốc gia, cần có sự ký kết hợp tác giữa hai bên để không chỉ người dân khu vực biên giới mà cả người dân các tỉnh khác không có đường biên giới với các nước láng giềng cũng có thể làm thủ tục xuất khẩu lao động thuận lợi. Đây cũng là giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng di cư lao động trái phép qua biên giới; 3- Xu hướng di cư lao động giản đơn trong nước tiếp tục phát triển do nhu cầu lao động giản đơn trong các công trình xây dựng ở đồng bằng sẽ tăng lên; Nhu cầu trợ giúp và dịch vụ của thành phố cũng phát triển mạnh mẽ.

Lao động - Việc làm

Con em đồng bào dân tộc thiểu số là học sinh Trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên, thực tập tại Công ty TNHH may Nam Thái Nguyên, sau khi tốt nghiệp được công ty nhận vào làm việc. Ảnh: TTXVN

Một số giải pháp thực hiện tốt công tác di dân đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc

Thứ nhất, bảo đảm đất ở, đất canh tác và việc làm.

Bảo đảm đất ở, đất canh tác cho đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do đến địa phương là vấn đề quan trọng và cấp bách nhất hiện nay. Vì đã an cư lạc nghiệp nên người dân không tiếp tục di cư tự do trong và ngoài khu vực.

Trong thời gian qua, đã có các chương trình, dự án xây dựng các tiểu vùng, điểm tập trung đồng bào dân tộc thiểu số. Các chương trình, dự án này đã đạt được những kết quả tích cực; Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn, quỹ đất tái định cư, tập quán du canh, du cư của đồng bào dân tộc thiểu số… Vì vậy, cần đặc biệt quan tâm đến chính quyền địa phương, nhất là vấn đề di dân của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Thực hiện đúng tiến độ, mục tiêu của Đề án quy hoạch bố trí, ổn định dân cư đã được phê duyệt. Để giảm chi phí, khó khăn về quỹ đất, các địa phương cần ưu tiên bố trí ổn định dân cư theo hình thức xen ghép. Khi có điều kiện, xây dựng tinh thần cộng đồng, khuyến khích người dân bản địa giúp đỡ người di cư tự do bằng cách nhượng lại một phần đất ở, đất rừng và đất canh tác một cách phù hợp.

Hai là, xây dựng các thiết chế xã hội ở cơ sở và cộng đồng dân di cư tự do.

Cần xây dựng, giữ gìn và phát huy các thiết chế xã hội ở cơ sở, chú trọng phát triển đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, người có uy tín trong cộng đồng, xây dựng hệ thống chính trị. Ở cơ sở, không để đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, di cư tự do “trắng” đảng viên, cán bộ chủ chốt, người có uy tín. Đồng thời, phát huy các thiết chế xã hội trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Cần nhận thức rõ rằng, đồng bào dân tộc thiểu số có ý thức cộng đồng thân tộc mạnh mẽ, là gốc rễ tinh thần và tâm linh của họ, dù sống du canh, du cư ở nhiều vùng nhưng vẫn tồn tại hàng trăm năm nay. Trái đất Bên cạnh đó, khi xây dựng và phát huy các thiết chế xã hội của cộng đồng các dân tộc thiểu số, cần chú trọng xây dựng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của từng dân tộc làm cơ sở để quản lý dân. Một ngôi nhà tốt hơn và bền hơn.

Ba là, quản lý di dân, ổn định địa bàn.

Trước xu hướng di cư lao động tự do của đồng bào dân tộc thiểu số, việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đòi hỏi phải kiểm soát, quản lý dân cư, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do.

Công tác quản lý dân cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do đến các địa phương khác đã, đang và sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn do ý thức công dân của người di cư tự do. Họ không có thói quen “đi báo cáo, đi báo cáo”, có trường hợp né tránh cán bộ cơ sở không muốn vào giải quyết.

Một khó khăn nữa cần tính đến là người di cư tự do thường sống phân tán, xa khu vực trung tâm, thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu. Do sinh sống phân tán, ở vùng sâu, vùng xa, kẻ xấu thường kích động, lôi kéo không hợp tác với chính quyền địa phương trong công tác quản lý dân cư. Vì vậy, chính quyền địa phương cần quan tâm, khuyến khích, nhất là tăng cường phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, giúp người dân nhận thức được những vấn đề liên quan trực tiếp đến ANTT. Ninh, an toàn cho bản thân, gia đình và liên quan đến an ninh quốc gia. Bên cạnh đó, cần sớm giải quyết vấn đề hộ tịch, hộ khẩu cho người di cư tự do theo quy định của pháp luật.

Xu hướng di cư của đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời gian tới đòi hỏi sự quan tâm sát sao của các cấp, các ngành, đặc biệt là các vùng di cư. đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong quá trình thực hiện chính sách di dân đạt kết quả tích cực, góp phần ổn định đời sống nhân dân và phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Theo PHẠM VÕ QUỲNH HẠNH/Tạp chí Cộng sản

Leave a Reply

Your email address will not be published.